QUỲNH LƯU (NGHỆ AN) TRONG DÒNG CHẢY LỊCH SỬ: BIẾN ĐỘNG ĐỊA CHẤT, DỊ TƯỢNG VÀ BIẾN CỐ
Vùng đất Quỳnh Lưu, thuộc phủ Diễn Châu xưa, không chỉ là địa bàn chiến lược về quân sự và hành chính mà còn là nơi ghi dấu những sự kiện địa chất, thiên tai, dị tượng và biến cố lịch sử đặc biệt kéo dài từ thời tiền sử đến thế kỷ XX.

I. THỜI TIỀN SỬ: VĂN HÓA QUỲNH VĂN (CÁCH ĐÂY KHOẢNG 5.000 NĂM)
Huyện Quỳnh Lưu sở hữu một nền văn hóa khảo cổ mang tên địa danh này – Văn hóa Quỳnh Văn, cách đây khoảng 5.000 năm[1].
Cư dân cổ Quỳnh Lưu sinh sống trên những vịnh biển nông, họ bắt điệp làm thức ăn và vỏ chất thành những đống lớn theo thời gian, tạo thành các di chỉ “cồn sò điệp” (shell mounds)[2].
Đã có hơn 30 ngôi mộ được tìm thấy với tư thế người chết được đặt ngồi xổm, bó gối[3]. Người Quỳnh Văn chôn người chết ngay tại nơi cư trú trên các đống vỏ sò điệp[4].
II. THỜI TRUNG ĐẠI SỚM (THẾ KỶ XII–XV)
1. Động đất và dị tượng đầu thế kỷ XII
Năm 1136 (Bính Thìn), tháng 2, một trận động đất lớn xảy ra tại Nghệ An đi kèm hiện tượng nước sông đỏ rực như máu[12].
Năm 1137, tại Nghệ An xảy ra động đất, kèm theo hiện tượng nước sông đỏ như máu[22].
2. Giấc mộng thần nữ (1312)
Năm 1312 (Hưng Long thứ 20), khi vua Trần Anh Tông đi đánh Chiêm Thành và đóng quân tại Cần Hải, ông đã nằm mộng thấy một vị thần nữ báo mộng tại núi Quy Lãnh[17].
3. Hiện tượng biến đổi giới tính (1350)
Dưới triều vua Trần Dụ Tông, sử liệu ghi lại một sự kiện hy hữu tại Thiên Cương (Nghệ An) khi một người con gái đột ngột biến thành con trai[23].
4. Tiếng sấm và động đất sau khởi nghĩa Lam Sơn (1428)
Sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, sử ghi nhận tại khu vực Nghệ An có tiếng kêu lớn như sấm trên trời, sau đó là động đất rung chuyển[30].
5. Bão lớn và nước biển dâng (1477)
Bão lớn kèm theo nước biển dâng tràn vào đất liền đã gây thiệt hại nặng nề cho các huyện vùng ven biển Nghệ An, trong đó có Quỳnh Lưu[31].
III. THẾ KỶ XVI: THIÊN TAI, CƯƠNG VỰC VÀ HIỆN TƯỢNG LẠ
1. Trận bão kinh hoàng năm 1537
Tháng 4 năm Đinh Dậu (1537), một trận gió bão cực lớn quét qua Nghệ An – Thanh Hóa làm đổ gãy cây cối, tốc mái nhà, khiến nước biển dâng cao đột ngột và làm nhiều người chết đuối[9].
2. Mưa đá dị thường (1549)
Ngày 14 tháng 4 niên hiệu Thiệu Bình thứ nhất (1549), giữa ban ngày trời bỗng tối sầm, nổi tiếng động ầm ầm như sấm, sau đó là trận mưa đá dữ dội với những viên đá to bằng hòn đạn hoặc quả trứng gà, có hạt to bằng cái đấu hoặc hộc đá, làm hư hại hoa màu, phá hủy nhà cửa và làm chết chim chóc ngoài đồng[10].
3. Sao chổi năm 1577
Một ngôi sao chổi xuất hiện ở tinh phận các sao Đấu, Cơ, Ngưu, Nữ và kéo dài suốt vài chục ngày mới tắt[10].
4. Tảng đá “nhảy” lên bờ (1585)
Năm 1585 (Quang Hưng thứ 8), tại thôn Đông Hồi, huyện Quỳnh Lưu, có một tảng đá lớn tự dưới biển “nhảy” lên trên bờ, nằm cách mép nước 15 trượng (khoảng 60 mét). Nhân dân lập đền thờ ngay tại vị trí tảng đá dừng lại[26].
IV. THẾ KỶ XVIII: ĐỘNG ĐẤT, ĐÓI KÉM VÀ PHONG TRÀO NÔNG DÂN
1. Động đất và đói kém
Năm 1767 (Định Hợi), tháng Giêng, núi lở ở Thanh Hóa và đồng thời hai huyện Quỳnh Lưu, Đông Thành xảy ra động đất[13].
Năm 1777 (Đinh Dậu), một trận động đất được ghi nhận tại Nghệ An vào tháng 4 trong bối cảnh nạn đói khủng khiếp[14].
Từ năm 1769 trở đi, sử liệu ghi nhận động đất, núi lở, sao sa và hiện tượng nước đỏ xuất hiện dồn dập trong khoảng 4–5 năm liên tiếp[5].
2. Nguyễn Hữu Cầu bị bắt (1751)
Tháng 3 năm 1751, Nguyễn Hữu Cầu định vượt biển trở ra Bắc nhưng gặp bão lớn, buộc phải lên bờ và bị bắt tại khu rừng Hoàng Mai thuộc huyện Quỳnh Lưu[15][16].
3. Tiết hạnh của bà Chân Thị
Bà là vợ lẽ của quan Thượng thư Hồ Phi Tích. Khi quân Nguyễn Hữu Cầu tấn công làng và ép bà đi theo, bà đã vào đền thờ chồng rồi tự dùng dao đâm vào cổ tử tiết để giữ lòng thủy chung[21].
V. THẾ KỶ XIX: SỤT LÚN VÀ ĐỘNG ĐẤT
1. Đất sập năm 1824
Tháng 4 nhuận năm Giáp Thân (1824), vào giờ Mão, giữa trời trong lặng gió bỗng phát ra tiếng nổ lớn như sấm. Mặt đất tại ruộng lúa sập xuống, nước mặn phun lên. Miệng hố rộng khoảng 60 thước, sâu 6 thước[24].
Ghi chép của các Thừa sai còn cho biết thêm: năm 1887, dịch tả đã tàn phá nặng nề vùng Quỳnh Lưu.[24]2. Động đất năm 1900
Tháng 6 năm Thành Thái thứ 12 (1900), tỉnh thành Nghệ An rung chuyển. Tại huyện Quỳnh Lưu, hai ngọn núi Quy Lãnh [tức là núi Quy Lĩnh, Quỳnh Bảng ngày nay) và Di Nhân xảy ra hiện tượng đá núi đổ sập xuống[18].
VI. THẾ KỶ XX: BIẾN CỐ CHIẾN TRANH
Ngày 23-5-1965, máy bay Mỹ ném bom hủy diệt Bệnh viện Quỳnh Lập, làm chết 139 người. Trường phổ thông cấp III Quỳnh Tiến cũng bị bắn phá trong thời gian này[11].
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Lịch sử Việt Nam tập 01 - Từ Khởi thủy đến Thế kỷ X, tr. 42.
Lịch sử Việt Nam tập 01 - Từ Khởi thủy đến Thế kỷ X, tr. 45.
Lịch sử Việt Nam tập 01 - Từ Khởi thủy đến Thế kỷ X, tr. 49.
Lịch sử Việt Nam tập 01 - Từ Khởi thủy đến Thế kỷ X, tr. 50.
Lịch sử Việt Nam tập 04 - Từ Thế kỷ XVII đến Thế kỷ XVIII, tr. 317.
Việt Nam Quốc Hiệu Và Cương Vực Qua Các Thời Đại - Nguyễn Đình Đầu, tr. 42.
Phương pháp làm sử của Lê Quý Đôn - Đinh Công Vĩ, tr. 144.
Phương pháp làm sử của Lê Quý Đôn - Đinh Công Vĩ, tr. 145.
Lịch sử Việt Nam tập 13 - Từ năm 1965 đến năm 1975, tr. 86-87.
Đại Việt Sử Lược, tr. 142.
Lê Quý Đôn, Đại Việt Sử Ký Tục Biên, tr. 322.
Lê Quý Đôn, Đại Việt Sử Ký Tục Biên, tr. 440.
Phong Trào Nông Dân Việt Nam Thế Kỷ 18 - Nguyễn Phan Quang, tr. 72.
Việt Án - Lần Theo Trang Sử Cũ - Trần Đình Ba, tr. 213.
Đại Nam Nhất Thống Chí, Tập 2, tr. 189.
Đại Nam Thực Lục Phụ Biên, tr. 279.
Đại Nam Liệt Truyện, Tập 2, tr. 512.
Ngô Thì Sĩ, Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, tr. 535.
Ngô Thì Sĩ, Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, Mục Khoản 23, tr. 499.
Quốc triều chánh biên toát yếu - Cao Xuân Dục, tr. 354.
Việt sử cương mục tiết yếu - Đặng Xuân Bảng, tr. 319.
Việt sử cương mục tiết yếu - Đặng Xuân Bảng, tr. 305.
Việt sử cương mục tiết yếu - Đặng Xuân Bảng, tr. 274.
Bulletin de la Société des Missions-Étrangères de Paris 1927, trang 28
Annales de la Société des Missions Étrangères 1903, trang 7-8

Đăng nhận xét