GIÁO XỨ LỘC THỦY: Giáo sử

Các bài viết bởi "Giáo sử"

12 Thánh tông đồ Audio suy niệm Audio truyện Công giáo Âm nhạc Bài Giảng mp3 Bạn có biết bạn trẻ xa nhà Bảo vệ sự sống Blog tips Ca kịch công giáo Các bài giáo lý của ĐTC Phanxicô Các hội đoàn Các mục chính Các Thánh Các thánh địa Công giáo Các thánh khác Các Tuần Cửu Nhật Kính Đức Mẹ Các vấn nạn xã hội Cắm hoa nghệ thuật Câu chuyện Giáng Sinh Châm ngôn công giáo Chiêm ngắm Chúa Chuyện phiếm đạo đời Chuyện về Giáo Lý và Giáo Dục Công Giáo đó đây Cửu Nhật Kinh Nguyện Danh Danh bạ website các giáo xứ - giáo họ việt nam Danh bạ website công giáo Di sản thế giới Du Lịch Đẹp + Để sống đạo hôm nay Đôi nét về Giáo xứ Đời sống cầu nguyện Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Đức Mẹ Lama Đức Thánh Cha phanxico Đức Tin và Khoa Học Đường Hy Vọng Gia đình Giải đáp thắc mắc cuộc đời Giao hat Vang Mai Giáo hạt Vàng Mai Giáo Hội Đông Phương Giáo lý - dân ca Giáo lý - kinh thánh Giáo sử Giáo xứ Media góc học tập Góc khám phá Góc nghệ thuật Góc thư giãn Góp nhặt Hạt Giống Lời Chúa Hình ảnh cổ xưa Hình ảnh Giáo xứ Lộc Thủy học tiếng anh Hướng dẫn sử dụng webblog Kết nối websites Kiến thức phổ thông Kính Đức Mẹ Kinh thánh tiếng anh Lẽ sống Lịch sử các Dòng tu Lịch sử Giáo Hội Việt Nam Lịch sử hình thành Giáo xứ Lộc Thủy Lòng Thương xót Chúa Lộc Thủy Lời Chúa qua bài hát Lời chúa theo chủ đề Lời chúc xuân Mùa Vọng - Advent Năm thánh Lòng Thương Xót Nghe và suy gẫm Nghệ thuật Công Giáo Nghệ thuật sống Ơn gọi-tận hiến Phim công giáo Quỳnh lưu Radio Công Giáo Sách Công giáo sách tháng đức bà Sắc màu cuộc sống Sổ tay sinh hoạt suy gẫm Suy gẫm và Cầu nguyện Suy niệm Lời Chúa Suy niệm Lời Chúa mùa Phục Sinh Suy niệm Lời Chúa mùa TN A Suy niệm Lời Chúa năm A Suy niệm mùa chay Sức khỏe - ẩm thực Tài liệu Công Giáo tổng hợp Tài liệu dạy Giáo Lý Tài liệu Tuần Thánh Thánh ca Thánh ca cầu nguyện Thánh Ca Hoàng Diệp Thánh Mẫu học Thánh Mẫu La vang Thế giới Công Giáo Thơ - Truyện Công Giáo Thơ Công Giáo Thơ và cuộc sống Thủ thuật blog Thủ thuật facebook Thủ thuật google + Thư Viện Công Giáo Tiếng anh qua Lời Chúa Tiêu điểm Tìm hiểu phụng vụ Tin Công Giáo Tin Giáo xứ Tin tức Giáo xứ Lộc Thủy Tin Việt Nam và Thế Giới Tổ chức kỳ thi Giáo lý Tông huấn Giáo hội Công giáo Trang Trí Giáng Sinh Trắc nghiệm Giáo lý Trắc nghiệm Kinh Thánh Trắc nghiệm năm đức tin Truyện Công Giáo Truyện về Mẹ Tư liệu Giáo hội Công giáo việt nam Tư liệu Giáo phận Vinh Tư liệu Giáo xứ Lộc Thủy Từ vựng công giáo Anh-việt Tv Công giáo TVs và Radios khắp nơi Vấn đáp đức tin công giáo Videos Đặc Sắc Vietnamese English Prayers Vinh Quang Đức Maria Website Công Giáo bổ ích Xứ đạo đầu tiên
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Trong những trang sử liệu nhuốm màu thời gian, chúng ta bắt gặp những vị Thừa sai đã dệt nên câu chuyện truyền giáo đầy gian truân nhưng cũng không kém phần vĩ đại. Mỗi Thừa sai hiện lên như một mảnh ghép, khắc họa nên bức tranh sống động về một thời kỳ lịch sử trong Hội Thánh Việt Nam nói chung, cách riêng là Hội Thánh tại Giáo phận Vinh nói riêng (lúc bấy giờ được gọi chung là Nghệ Tĩnh Bình).

Dưới đây là những trích đoạn về một số vị Thừa sai đã từng hiện diện và hoạt động tại Giáo phận Vinh nói chung, cách riêng là tại Quỳnh Lưu, theo những sử liệu của MEP, mà người viết truy tầm được. 

Ở bài trước, người viết đã trích đoạn nói về nguồn Gốc lịch sử hình thành Giáo xứ Thanh Dạ - theo bản phúc trình của Cha già Tấn I (được viết vào năm 1920). 

Dưới đây, người viết trích dẫn đoạn kế tiếp trong bản phúc trình (phần nói về họ Cự Tân) của Cha Tấn viết, để trình lên Đức Giám mục Giáo phận Vinh lúc bấy giờ là Đức Giám mục André-Léonce-Joseph Eloy Bắc.

______________________________

        Nguồn Gốc lịch sử hình thành Giáo xứ Thanh Dạ - theo bản phúc trình của Cha già Tấn I. Bản phúc trình không ghi ngày tháng. Nhưng theo mốc lịch sử hình thành giáo xứ Thanh Dạ là năm 1914, thì bản phúc trình này được viết vào năm 1920. 

        Đây là một sử liệu hiếm hoi về Giáo xứ Thanh Dạ. Đọc bản phúc trình này, độc giả sẽ thấy được những truân chuyên thử thách trong đời sống đức tin mà cha ông quê hương đã can trường vượt qua như thế nào; đồng thời cũng thấy được "lòng người" như thế nào ở vào thời điểm đó!

        Cách hành văn có dùng nhiều từ theo cung giọng người bản địa; hoặc có một số cách dùng chính tả và hạn từ xưa. Nhưng vì là sử liệu, nên người viết sẽ giữ nguyên như bản gốc (ngoại trừ những chỗ trong ngoặc vuông là do người viết thêm vào để giải thích; hoặc do người viết phỏng đoán, vì lâu ngày quá, chữ đã mờ, không thể đọc được!).

        Dưới đây là trích đoạn (phần nói về họ Thanh Dạ) nội dung bản phúc trình mà Cha Tấn viết trình lên Đức Giám mục Giáo phận Vinh lúc bấy giờ là Đức Giám mục André-Léonce-Joseph Eloy Bắc.

Linh mục Phêrô Cao Hữu Tạo (1863–1961) và linh mục Phêrô Cao Hữu Hân (1865–1965) là hai Linh mục gắn bó cả cuộc đời với những người con thuộc các giáo xứ vùng Quỳnh Lưu, Nghệ An (từ Bắc chí Nam). Xin ghi lại nơi đây đôi dòng tiểu sử của các Ngài, để, một lần nữa, tạ ơn Chúa và tri ân tấm lòng Mục tử đầy yêu thương của các Ngài đã dành cho những con chiên mà Chúa đã trao phó cho các Ngài trong suốt hành trình thi hành Sứ vụ Linh mục của các Ngài.

PHẦN KHÁI QUÁT
CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO
TẠI NGHỆ AN - ĐẦU THẾ KỶ XVII

 

Những Cột Mốc Quan Trọng

Nói về giáo phận Vinh, thông thường nhiều người chỉ nghĩ đến một cột mốc duy nhất là con số 1846, tức giai đoạn khoanh vùng quyết định để thành lập giáo phận Nam Đàng Ngoài, sau đổi thành giáo phận Vinh, gồm hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Bắc Quảng Bình.

Ranh giới này được Thừa sai Retord Liêu, Giám mục giáo phận Tây Đàng Ngoài ấn định và được Tòa Thánh Rôma chấp thuận để lập thành một giáo phận hoàn toàn mới. Trong đó vị Giám mục đầu tiên thuộc Hội thừa sai Paris Pháp có tên là Gauithier Ngô Gia Hậu làm Giám mục tiên khởi cùng 9 vị khác nối tiếp. Với cột mốc ấy, tiến đến nay giáo phận Vinh chỉ mới có 157 tuổi.

PHẦN PHÚC TRÌNH
LINH MỤC E. FERREYRA
NGÀY 03 THÁNG 10 NĂM 1676

Một Nét Tiểu Sử Linh mục dòng Tên Emmanuel Ferreyra:

-  Sinh năm 1631 tại Lisbõa, Bồ Đào Nha.

-  Gia nhập dòng Tên năm ?

-  Lên đường đi truyền giáo ngày 19.4.1658.

-  Ngày 04 tháng 3 năm 1673, đến Phố Hiến cùng với ba linh mục Domenico Fuciti, Filippo Marini và Francisco Pimentel (cụ Chi). Riêng linh mục E. Ferreyra, sau khi trốn thoát nhà cầm quyền ở Phố Hiến, ngài lẻn về Nghệ An, nơi có đến 200 nhà thờ và nhà nguyện.

-  Năm 1675, làm bề trên dòng Tên ở Đàng Ngoài, liên tục hoạt động tại đây từ 1673 đến 1684 là năm phải bỏ Đàng Ngoài về Rôma theo lệnh của Tòa Thánh. Emmanuel Ferreyra cho hay, chỉ trong 4 tháng đầu năm 1676, ngài đã rửa tội cho 900 người lớn. Nếu tính 11 năm ở Đàng Ngoài, ngài rửa tội hơn 20 ngàn người.

-  Năm 1676, chỉ còn lại một mình ngài là thừa sai dòng Tên còn lại giúp giáo dân Đàng Ngoài, đặc biệt là vùng Nghệ An. Vì biết rõ địa lý của vùng này ngày 03.10.1676 tại một nơi có tên là Kẻ Vó thuộc tỉnh Thanh Hóa ngài đã viết bản phúc trình dài và chi tiết liệt kê 195 giáo điểm tiên khởi đã có người theo đạo Công giáo do các linh mục dòng Tên, hội thừa sai Paris Pháp và các linh mục người Đàng Ngoài phụ trách.

-  Tháng 4 năm 1696, đời Đức Giáo Hoàng Innocens XII, linh mục E. Ferreyra cùng với hai linh mục Linô Borgia Lịch và Antong Loyola Năng, cả hai vừa được thụ phong tại Áo Môn có dịp trở lại Đàng Ngoài lần thứ hai.

-  Ngày 15 tháng 5 năm 1699, ngài qua đời tại Kẻ Sặt, tỉnh Hải Dương.

Linh mục Cao Vĩnh Phan tác giả cuốn sách đi tìm xứ đạo đầu tiên giáo phận vinh 1627 - 2003

Hôm nay, ngày 13 tháng 03 năm 2025, tôi: Linh mục Phêrô Hoàng Văn Hậu, Dòng Chúa Cứu Thế, được sự cho phép của Linh mục Phêrô Hoàng Vĩnh Linh, đại diện cho Ban Biên tập Giáo xứ Lộc Thủy xin được đăng lại một công trình nghiên cứu hết sức có giá trị về lịch sử của Giáo phận Vinh nói riêng, và cũng là của Hội Thánh tại Việt Nam nói chung.

Cha Phêrô Hoàng Vĩnh Linh đã đồng ý cho phép website của Giáo xứ Lộc Thủy đăng tải toàn bộ nội dung của cuốn sách : "Đi Tìm Xứ Đạo Đầu Tiên Giáo Phận Vinh 1627 - 2003" của cố Linh mục JBT. Cao Vĩnh Phan. Và để giữ đúng (hết sức có thể) như bản gốc, Ban Biên tập Giáo xứ Lộc Thủy sẽ cố gắng giữ lại tất cả mọi chi tiết (từ cách trình bày trên văn bản cho tới cách phân chia các phần, mục, đặc biệt là các chú thích, các nguồn trích dẫn của tác giả...).

TRONG MÙA CHAY, HẦU NHƯ GIÁO PHẬN NÀO CŨNG NGẮM NGUYỆN - NHƯNG CÓ AI TÌM HIỂU XEM: AI LÀ NGƯỜI ĐẦU TIÊN ĐÃ VIẾT RA 15 THỨ NGẮM TUYỆT VỜI NẦY?

        Linh mục Phêrô Hoàng Vĩnh Linh chia sẻ: “Từ trước tới nay, "bần đạo" vẫn nghĩ rằng: 15 thứ ngắm đó là do các "Cố Tây Thừa Sai" xưa kia đã viết ra, nhưng không biết ai là tác giả? Hôm nay "bần đạo" tiếp tục đưa lên fb. công trình của cha Bố JBT. Cao Vĩnh Phan viết cuốn: ĐI TÌM NHỮNG XỨ ĐẠO ĐẦU TIÊN Ở GIÁO PHẬN VINH thì mới vỡ lẽ là CHÍNH CHA ĐẮC LỘ (ALEXANDRE DE RHODES).

PHẦN PHỤ BẢN


1. SUY NGHĨ VỀ VẤN ĐỀ
PHÂN CHIA GIÁO PHẬN VINH
BẮC VIỆT NAM
2001 - 2003

TP. HCM, 08/8/2001

Kính gửi:

Thầy Phạm Minh Thanh

Quí vị trong Hội Ái Hữu Vinh, Bắc California, USA.

1.    Mỗi năm đến ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, tất cả chúng ta lại hướng về giáo phận Mẹ quê hương Vinh Nghệ - Tĩnh - Bình. Đối với riêng tôi và Quí vị, điều đó càng làm chúng ta nhớ đến một biến cố lịch sử khó quên, ngày 15/8/1996, ngày khai sinh cuốn Lịch Sử Giáo Phận.

Thời kỳ sơ khai của Giáo xứ Yên Hòa - Quỳnh Lưu - Nghệ An, theo báo cáo của Thừa sai Constant CUDREY

Hoàng Mai An, C.Ss.R. (chuyển ngữ)

Về thời kỳ sơ khai của Giáo xứ Yên Hòa – Quỳnh Lưu – Nghệ An, Thừa sai coi sóc huyện Quỳnh Lưu - Constant CUDREY (1850 – 1919) trình thuật như sau: 

 LÀNG TÂN YÊN – XỨ PHÚ YÊN

KỶ YẾU

HÌNH THÀNH & PHÁT TRIỂN

    Trong phần mở đầu cuốn sách Giáo xứ Phú Yên, làng Tân Yên, Lm. F.X. Nguyễn Hùng Oánh đã viết: “Mến yêu quê hương, hãnh diện về ngôi Thánh Đường đứng nhất nhì Giáo phận Vinh đã trở thành truyền thống tốt đẹp của người Tân Yên khắp năm châu”. Vì thế bà con quê hương Tân Yên ở trong và ngoài nước đã đóng góp những khoản tiền và ngày công đáng kể để bảo tồn ngôi thánh đường, xây dựng nhà xứ mới, phòng học, giúp đỡ người nghèo, nâng đỡ học sinh bằng tiền khuyến học, đóng bàn ghế mới cho học sinh, đóng góp phần lớn ngân sách vào nguồn điện thắp sáng cho dân làng, đào giếng, xây giếng nước và tất cả mọi thành quả chúng ta đã làm được là một việc đáng trân trọng cần ghi nhớ để tạ ơn Thiên Chúa và biết ơn ông bà tổ tiên đã khai sinh ra Làng Tân Yên, giáo xứ Phú Yên hôm nay.

Các thế hệ Tân Yên chúng ta đang cố gắng để không hổ thẹn với tổ tiên, làng nước. Hy vọng con cháu Tân Yên luôn biết phát huy lòng yêu mến quê hương, kính nhớ ông bà tổ tiên, ra sức học hành, tu dưỡng đạo đức để bồi đắp, giữ gìn những gì Ông Cha ta xây dựng và để lại cho hậu thế.

Chúng ta cùng điểm lại những chặng đường lịch sử, những sự kiện mà Làng Tân Yên – Giáo xứ Phú Yên đã trải qua trong suốt quá trình hình thành và phát triển.

15:21:00

GỐC TÍCH ĐÀNG THÁNH GIÁ.

Hình ảnh: giaolyphutrung.com
Viếng Đất thánh, là thói quen từ hồi nghĩa binh đi cứu viện đất thánh. Theo lời truyền tụng thì cứ đi từng nơi Chúa chịu tử nạn mà suy ngắm sự thương khó Chúa. Những người ở xa không đến đất thánh được thì vẽ hình và suy ngắm : nơi chung hay riêng. Chưa nhất định : 7, 8 nơi, 15, 12, 17, 34 nơi.
Cách đi 14 nơi do thầy dòng Joan Pascha, thuộc dòng Car-men ở Lovel đã khởi sự từ thế kỷ XVI, Đức Giáo hoàng Inno-cent XI ban ân xá cho đàng thánh giá nầy.
Ân xá, mỗi nơi 10 năm tiểu xá.
Trọn 14 nơi : một đai xá. Nếu ngày ấy ai chịu lễ thì được thêm một đại xá nữa.
Bí chú : không cần đọc kinh gì mà chỉ đi từng nơi và dục lòng thống hối mến yêu.
Không đến nhà thờ được, sắm một cây thánh giá, xin Linh mục làm phép đàng thánh giá. Cầm ảnh mà suy ngắm cùng đọc 20 lần kinh lạy cha , kính mừng, sáng danh : 14 lần, 14 nơi đàng thnáh giá.
5 lần 5 dấu đanh Chúa Giêsu.
Một lần cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng.


"Christus vincit, Christus regnat, Christus imperat"

Ở sân đền thánh Phêrô có một cột đá cao. Trên đó Đức thánh Cha truyền khắc rõ bằng chữ nổi hàng chữ sau đây : "Christus vincit, Christus regnat, Christus imperat". Nghĩa là : "Chúa Giêsu toàn thắng, Chúa Giêsu cai quản, Chúa Giêsu thống trị".
Thưa a.c.e, hôm nay tôi cũng muốn in rõ hàng chữ đó trên trái tim mỗi người chúng ta, để trái tim chúng ta thành cột đá vững chắc cho tình yêu Chúa Giêsu Thánh Thể. Nhưng trước hết chúng ta cần biết rõ :
- Chúa Giêsu toàn thắng là gì ?
- Chúa Giêsu cai quản ở đâu ? và
- Chúa Giêsu thống trị như thế nào ?

I. Chúa Giêsu toàn thắng là gì ?

- Chúa Giêsu toàn thắng ở các tâm hồn.
Mỗi người chúng ta đều có một quả tim. Quả tim đó tuy nhỏ nhưng có một sức mạnh rất lớn, một sức mạnh mà không sức mạnh nào có thể đàn áp được. Cũng vì thế, chúng ta muốn có một sức mạnh tinh thần vô địch, chúng ta cần chinh phục được nhiều quả tim về ta. Và cũng vì thế ai càng chinh phục được nhiều quả tim, kẻ đó quả là một vĩ nhân, một vĩ anh hùng xuất chúng.
Thế nhưng, chinh phục được  quả tim có phải là một việc dễ dàng không ? – Không ! Chinh phục quả tim thật là một việc khó khăn nhất. Ngày nay người ta chinh phục được vũ trụ, chinh phục được thiên nhiên, người ta bắt thiên nhiên phải phục vụ cho đời sống của mình. Người ta bắt dòng nước quay những bánh xe làm chạy những nhà máy điện lớn, có thể thắp sáng hàng chục thành phố lớn. Người ta bắt không khí vào quạt những lò than nóng hàng mấy nghìn độ. Người ta bắt hơi nước sôi quay được bánh xe làm chạy những xe lửa hàng chục toa mà mỗi toa nặng hàng chục tấn, hay quay chong chóng đẩy những chiếc tàu thủy to lớn vượt đại dương. Người ta dùng máy bay vượt lên không trung hàng chục cây số. Người ta bắt các làn sóng điện để truyền thanh truyền hình qua không trung để những người ở xa vẫn thấy nhau, vẫn nghe nhau nói chuyện.
Thế mà, chưa một ai có thể dùng sức mạnh của mình, dùng tài trí của mình để bắt một quả tim phải yêu mình. Người ta không thể nói : "Mầy phải yêu tao", bởi vì quả tim của con người nó có tự do của nó. Nó muốn yêu vật này hay vật kia là tự ý nó, nó muốn hiến cho vật này hay vật kia là tự ý nó. Nó muốn là nó yêu, nó không muốn là không yêu. Cho đến nỗi, ngay những khi nó yêu những cái bẩn thỉu bỉ ổi đi nữa, nếu có một sức mạnh nào cản trở , là nó nổi dậy lật ách ngay. Có khi cả một sức mạnh uy hùng cũng không chinh phục nỗi một quả tim bé nhỏ. 
Quintiano một ông vua uy hùng của đế quốc La Mã. Ông cai trị một đế quốc rộng lớn, trong tay ông một lực lượng không nước nào dám hống hách. Từ dân đến quan không ai dám trái mệnh lệnh của ông. Thế mà có một cô gái Công giáo dám ngang nhiên kháng cự ý muốn của Quintiano. Quintiano muốn dụ dỗ cô, nhưng cô nhất định không chịu. Quintiano dùng quyền dọa dẫm, cô ngang nhiên chống đối. Cuối cùng Quintiano thất bại phải kết liễu cuộc chiến một cách đê hèn là giết cô giáo Công giáo ấy. Cô gái Công giáo ấy là thánh nữ Agartha. Thánh nữ vui lòng chìa cổ cho lưỡi gươm kết liễu đời mình vì thánh nữ đã hiến quả tim mình cho Chúa Giêsu rồi. Chúng ta thấy, chinh phục một quả tim là một việc rất khó khăn.
Thế mà hàng trăm triệu quả tim từ hai mươi thế kỷ nay đã thuộc về Chúa Giêsu. 
1. Chúa Giêsu đã chinh phục được những quả tim đó.
2. Có ai được nhiều quả tim yêu mến như thế không ?
- Chỉ một mình Chúa Giêsu.
Trong lịch sử loài người, đã có ai chinh phục được nhiều quả tim như thế không ? – chỉ một mình Chúa Giêsu. Thật, Chúa Giêsu của chúng ta là một vị anh hùng mà không một vị anh hùng nào có thể sánh kịp. Ngài là một vĩ nhân trên các vĩ nhân bởi vì Ngài là Người - Thiên Chúa. nếu có ai được nhiều người mến phục đi nữa thì cũng chỉ là nhất thời thôi. Người ta chỉ mến phục kẻ ấy khi còn thấy bóng dáng họ, khi còn nghe tiếng họ, nhưng mỗi khi họ đã xuống mồ rồi, mỗi khi ba tấc đất đã che kín cái quan tài của họ rồi, thế là hết đời họ. Tên tuổi họ sẽ bị rơi vào dĩ vãng.
Còn Chúa Giêsu thì sao ? Thưa anh chị em. Chúa Giêsu được các quả tim yêu mến, không chỉ trong những ngày Người còn sống trên đất Palestin của Ngài. Không phải chỉ có mấy ngàn người cứ mãi miết theo Ngài đêm ngày từ thành này đến thành khác ở xứ Galilê mà thôi. Mà Chúa Giêsu đã được các quả tim yêu mến ngay khi tảng đá lớn lấp của mồ Ngài lại, và cũng chính ngay lúc ấy Chúa Giêsu bắt đầu đi chinh phục các quả tim.  Thưa anh chị em, hôm nay chúng ta được vinh dự thay mặt toàn thể địa phận làm tuần chầu Chúa Giêsu thánh thể, chúng ta hãy cùng sung sướng với hơn 400 triệu quả tim công giáo trên toàn cầu, cùng với 14 vạn quả tim Công giáo trong địa phận nhà, chúng ta dâng lên Chúa Giêsu Thánh Thể quả tim của mỗi người chúng ta, để tất cả chúng ta cùng rập tiếng hô lớn :  "Christus vincit, Christus regnat, Christus imperat".

II. Chúa Giêsu cai quản ở đâu ?

Chúa Giêsu đặt ngai tòa Ngài ở đâu ? Nghĩa là Nước Chúa Giêsu là nước  nào ?
Nước Chúa Giêsu là các tâm hồn. Chúa Giêsu đặt ngai tòa của Ngài trên các tâm hồn, nghĩa là Chúa Giêsu đòi hỏi phải hiến tâm hồn chúng ta, quả tim chúng ta cho ngai vàng của Ngài. Chúa Giêsu đòi hỏi như thế có phải là điều vô lý không ? vì quả tim , nó có tự do của nó, nó tìm đến làm tôi vua của nó mà bởi đó nó không muốn làm tôi một vua nào khác nữa. Vả lại quả tim nó tuy nhỏ, nhưng nó muốn ôm ẵm cả vô cùng. Bởi đó, Chúa Giêsu đòi chúng ta phải hiến quả tim chúng ta cho Ngài, chẳng những không phải là một điều phi lý, mà lại là một điều rất hợp lý, rất tự nhiên. Bởi vì qủa tim tuy nhỏ, nhưng nó muốn ôm ẵm cái vô cùng, nghĩa là quả tim nó muốn đòi được hạnh phúc, cái hạnh phúc chân thật, hạnh phúc chính nghĩa, hạnh phúc vô cùng vĩnh viễn của nó. Bao lâu nó chưa được thỏa mãn, nó còn muốn tìm cho kỳ được. Thế mà, tất cả những cái ở đời này mà ta gọi là hạnh phúc, chính nó có thể làm cho quả tim được thỏa mãn tuyệt đối không ? danh vọng tài săc đều là không cả.
Quả là không. Vàng bạc của cải không thể là hạnh phúc làm thỏa mãn quả tim con người, vì thực tế chưa có ai thỏa mãn với số của cải mình hiện có. Có khi chính của cải nó lại làm cho chúng ta mất hạnh phúc : nó làm cho ta quên ăn, quên ngủ, nó làm ta lo lắng gìn giữ nó. Thế rồi không may mất nó đi, nó làm cho lòng ta bối rối luyến tiếc. Như thế hạnh phúc thật không phải ở nơi của cải. Quyền chức có thể là hạnh phúc không ? không thể là hạnh phúc thật. Câu chuyện Quintiano trên đây đã chứng minh điều đó. Ông chưa thỏa mãn về quyền lực của ông, vì ông đã phải đầu hàng trước một cô gái Công giáo gan dạ, không chịu làm theo ý ông.
Nhan sắc cũng không thể là hạnh phúc thật. Bởi vì nấp dưới chén rươụ dục tình, nấp dưới tình yêu nhục dục là cả một sự cay đắng chua xót. Thực tế cho ta thấy bao nhiêu cảnh đau thương, tan cửa nát nhà, trầm mình, tự tử, đều diễn ra sau những đêm tội lỗi. Bởi vì trong tình yêu nhục dục người ta không tìm thấy hạnh phúc đích thực của mình. Thánh Augustin sau ba mươi năm theo đuổi vinh hoa, danh lợi, dục tình, cuối cùng không tìm thấy hạnh phúc thật của mình, Ngài đã trở lại và kêu lên : "Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con giống hình ảnh Chúa, và quả tim chúng con hằng lo lắng cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa mới thôi". Đó là một bằng chứng sống động nhất.
Rồi giữa thế kỷ 20 này, chúng ta tự hào là thế kỷ nguyên tử, thử hỏi khoa học có đem lại hạnh phúc cho loài người không ? Khoa học đã làm cho cuộc sống của con người được dễ dãi, êm ấm, như thế con người đã thỏa mãn chưa ? Chưa, vì con người cứ muốn vươn lên cao nữa. Và người ta đã lên cả cung trăng, vào cả vũ trụ bao la bằng sức mạnh nguyên tử. Thế mà người ta chưa thõa mãn, người ta còn muốn đi xa hơn nữa. Và cho đến một ngày kia dù người ta lên đến một ngôi sao nào xa thẳm, thì người ta cũng chưa thỏa mãn, vì mặc dầu vũ trụ này là bao la nhưng nó có cùng. Còn quả tim con người thì lại muốn ẳm lấy vô cùng. Thế thì quả tim con người chỉ có hạnh phúc thật, chỉ có thỏa mãn khi nó chiếm hữu được cái vô cùng. Cái vô cùng ấy chỉ có Chúa Giêsu. bởi vì chỉ có Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là Đấng vô cùng, vô cùng thánh thiện vô cùng mỹ hảo.
Thưa anh chị em, thế thì chúng ta còn tiếc gì mà chúng ta không để cho trái tim mình được hạnh phúc thật, chúng ta còn tiếc gì mà không hiến tâm hồn của chúng ta cho Chúa Giêsu đặt ngai tòa Ngài ở đó, chúng ta còn chờ đợi gì mà không rước Chúa Giêsu làm vua ngự trị lòng chúng ta, để chúng ta được sung sướng tung hô vua Giêsu : "Christus vincit, Christus regnat, Christus imperat".

III. Chúa Giêsu thống trị cách nào ?

Khi người ta mốn  cai quản ai, muốn thống trị một dân tộc nào, người ta phải có một sức mạnh, sức mạnh của quân đội, sức mạnh của gươm giáo, sức mạnh của súng đạn. Còn Chúa Giêsu làm thế nào để thống trị ? Ngài không có một lưỡi gươm hay một viên đạn nhỏ, không một khí giới nào dù là thô sơ hay tối tân. Ngài chỉ có một đội quân nhỏ yếu, không có lấy một tấc sắt trong tay, đội quân ấy chỉ có 12 người nhỏ bé... 12 Tông đồ đơn sơ chất phác. Các đấngố chỉ là những người chài lưới trên mặt biển, mặt hồ Genezareth. Thế thì Chúa Giêsu làm thế nào để thống trị các tâm hồn ? Chúa Giêsu dùng sức mạnh của tình yêu. Chúa Giêsu muốn có một đội quân hùng mạnh, muốn có một sức mạnh vũ lực có được không ? Được lắm ! vì Chúa Giêsu là Thiên Chúa quyền phép vô cùng. Nhưng Chúa Giêsu không muốn chinh phục các con tim bằng sức mạnh vũ lực ấy. Bởi vì sức mạnh vũ lực chỉ làm cho con người bị trị thành tôi tớ, thành nô lệ và làm cho người cai trị trở nên một bạo chúa, một kẻ đàn áp, một người bóc lột. Và như thế thì còn gì là hạnh phúc nữa. Còn Chúa Giêsu muốn kêu gọi các tâm hồn thuộc về Ngài là bạn hữu, là con cái, và Ngài muốn xưng mình là Cha là Anh cả. Phải rồi, chỉ có tình yêu mới sinh ra con cái. Và chỉ có tình yêu mới làm cho Chúa Giêsu lập nên bí tích Thánh Thể để hiệp nhất với các bạn hữu Ngài, với các con cái Ngài, bằng cách ngự vào các tâm hồn mà ở đó Ngài đã đặt ngai tòa của Ngài.
Đàng khác chúng ta thấy sức mạnh của vũ lực không phải là một sức mạnh bền bỉ, một sức mạnh tồn tại mãi mãi. Lịch sử loài người cho chúng ta thấy không một chế độ nào có thể tồn tại mãi, không một quyền bính nào có thể thống trị mãi, không một ông vua nào có thể ngồi yên mãi từ đời này qua đời khác trên ngai vàng của mình. Trái lại, các ngai vàng thế gian cứ theo nhau sụp đổ, sụp đổ tan tành, trong khi nước của Vua Giêsu cứ lớn mạnh, và các thánh đường thi nhau mọc lên nơi này chỗ khác qua bao thế hệ. Mà hễ ở đâu có một ngôi thánh đường mọc lên là ở đó có một bàn thờ, một nhà tạm cho Chúa Giêsu ngự trị để thống trị các tâm hồn, và ở đâu có Chúa Giêsu ngự trị thì ở đó có biết bao tam hồn đến nhận Chúa Giêsu làm vua, biết bao quả tim đến hiến dâng cho Ngai tòa của Chúa Giêsu Thánh Thể. Phải rồi, chỉ có tình yêu của Chúa Giêsu là sức mạnh bền bỉ nhất, chỉ có tình yêu của Chúa Giêsu là sức mạnh vô biên, không có sức mạnh nào đàn áp nỗi. Với tình yêu vô biên ấy Chúa Giêsu đã thống trị trên các tâm hồn ngay khi tảng đá lớn lấp cửa mồ Ngài lại cho đến ngày thế gian này trở về hư nát. Rồi từ đó Nước Vua Giêsu Thánh Thể lại là nước vô cùng không có giới hạn nữa. Và ở đó chúng ta những quả tim đã hiến dâng cho vua Giêsu, những tâm hồn đẫ được Vua Giêsu đặt ngai tòa của mình sẽ được cùng vang tiếng tung hô với các thiên thần Séra-phim để muôn đời chúc tụng Vua Giêsu chúng ta : "Chúa Giêsu toàn thắng, Chúa Giêsu cai quản, Chúa Giêsu thống trị". Amen.

Giới trẻ Lộc Thủy sưu tầm

17:36:00

Tóm Tắt Những Biến Cố Ly Khai Và Những Cố Gắng Đối Thoại Hiệp Nhất Của Kitô Giáo

Lm. Paul Đào

Hình ảnh:giaophanvinhlong.net
Chúng ta nên biết danh từ kitô hữu chỉ tất cả những ai tin thờ Đức Kitô: gồm anh em Tin lành, Chính thống, Công giáo.

Đức tin Kitô giáo là Đức tin của các Thánh Tông đồ do Chúa Thánh Thần khai sáng thông ban từ ngày lễ Hiện xuống được tóm gọn trong kinh „Tin kính“. Giáo hội Kitô giáo ý thức đón nhận và có bổn phận sống chứng nhân cho tới ngày cánh chung.

Trải qua giòng lịch sử, trong các hoàn cảnh mới của xã hội, gặp gỡ các nền văn hóa các dân tộc khác nhau, các nhà thần học Kitô giáo nghiên cứu đưa ra những ý kiến mới về thần học Kitô giáo: Giáo hội có bổn phận nhận xét phán định để luôn bảo vệ kho tàng Đức tin chính tông.

Khi trình bày các luồng tư tưởng giáo lý, các nhận thức mới, các tư tưởng đối nghịch, Giáo hội „phân định“ đâu là các tư tưởng không chính tông gây nên những giáo thuyết lầm lạc, những nhóm ly khai khỏi Giáo hội tông truyền.

Trong suốt lịch sử Giáo hội Công giáo, các giáo thuyết lầm lạc cũng như các nhóm ly khai muốn sống ngoài Giáo hội được phát hiện... đồng thời cũng có những cố gắng đối thoại tìm về hiệp nhất.

Trong khuôn khổ của tờ báo, chúng tôi chỉ tóm tắt những biến cố ly khai quan trọng còn ảnh hưởng đến ngày hôm nay và những cố gắng đối thoại hiệp nhất của Chính thống giáo, Tin lành, Anh giáo. 

CHÍNH THỐNG GIÁO

Được gọi là Giáo hội Chính thống, tất cả các giáo hội chấp nhận trung thành với Công đồng Chalcedoine (451) và theo nghĩa rộng là tất cả các Giáo hội Đông phương ly khai khỏi Giáo hội Rôma.

Đây là kết quả đau thương của Kitô giáo qua một tiến trình phức tạp gây nên do vấn đề văn hóa khác nhau, vấn đề chính trị quyền bính, thiếu hiểu biết nhau qua những tập tục riêng biệt giữa Đông phương và Tây phương.

Kể từ thế kỷ thứ 4, Địa vị ưu đẳng của Rôma: Giám mục Rôma được xem là giáo chủ theo thần quyền vì là Đấng kế vị thánh Phêrô, vị Giáo hoàng tiên khởi. Sự kiện nầy bị Đông phương (Constantinople) chối từ và cho rằng ở đây chỉ là hiện tượng ngẫu nhiên lịch sử vì nhân số Giáo hội Rôma đông hơn và nhất là Rôma là thủ đô của đế quốc Rôma.

Năm 325, công đồng Nicée thừa nhận ưu quyền của các giám mục thành Rôma, Alexandrie và Antioche.

Năm 381, công đồng Constantinople công nhận ưu quyền của giám mục thành Constantinople.

Năm 451, công đồng Chalcédoine thừa nhận quyền tài phán tòng thổ (juridiction territoriale) của giáo chủ Constantinople và có những đặc ân ngang hàng với Roma.

Giáo hội Đông phương chống lại vấn đề thêm chữ „filioque“ trong kinh Tin kính (năm 749).

Năm 857, hoàng đế đông phương Michel III cất chức và lưu đày giám mục Ignace, giáo chủ Constantinople vì ông nầy khiển trách tính tình của hoàng đế. Hoàng đế phong đặt một giáo dân Photius, chịu chức vội trong vòng 6 ngày, lên làm giáo chủ Constantinople. Giáo chủ Ignace khiếu nại đến giáo chủ Rôma. Đức Giáo hoàng Nicolas I triệu hồi Ignace và Photius về Rôma. Photius không về, lại còn chỉ trích quyền phán xử của Đức Giáo hoàng ở Rôma. 

Năm 877, Photius lên ngôi giáo chủ Constantinople.

Thế kỷ thứ X và XI, hai giáo chủ Rôma và Constantinople không nhìn nhận nhau.

Ngày 16-7-1054, trong cuộc hội họp, các đại diện Roma: Đức hồng y Humbert, Frederic de Lorraine và Tổng giám mục Pierre d’Amalfi dứt phép thông công đức giáo chủ Constantinople, Michel Cérulaire, và đoàn tùy tùng. Đức giáo chủ Michel Cérulaire trả đũa bằng cách dứt phép thông công chung cho tất cả giáo hội latin. Constantinople (Byzance) thành giáo đô Chính thống giáo. 

Và từ đó đến nay hơn 10 thế kỷ, Giáo hội Chính thống Đông phương ly khai khỏi Giáo hội Roma và phát triển hoàn toàn độc lập.

Cuộc ly khai nầy lôi kéo tất cả các giáo hội Đông phương và các Giáo hội Serbes, Bulgares, Russes, Roumains.

Năm 1585, Moscou được nâng lên hàng giáo chủ và nắm quyền tự trị và tự nhận là giáo đô thứ ba (Rôma thứ ba) sau Roma, và Constantinople.

Đức Thượng phụ giáo chủ Constantinople chỉ là Đức Giáo chủ danh dự của Chính thống giáo vì các Giáo hội Chính thống tự trị độc lập với nhau. Và mọi quyết định quan trọng đều do Hội đồng giáo hội biểu quyết. Tổng số các tín hữu Chính thống giáo ước lượng chừng 250 triệu tín hữu: Nga sô từ 80 triệu, Roumanie 16 triệu, Nam Tư 8 triệu, Hy Lạp 8 triệu, Bularie 6 triệu, Hoa Kỳ 4 triệu... và các quốc gia khác ở Âu châu, Mỹ châu. 

GIÁO HỘI TIN LÀNH. 

Giáo hội Tin lành xuất hiện vào những thế kỷ 14-16 dưới sự hướng dẫn của các nhà cải cách tôn giáo: John Wiclif (1323-1384) linh mục giáo sư nổi tiếng ở đại học Oxford, Jean Hus (1369-1415) nhà giảng thuyết uyên thâm ở Tiệp khắc, và nhất là ông Martin Luther, một giáo sư thần học nổi tiếng ở Đức, Zwingli ở Thụy sĩ, Calvin ở Pháp. Các nhà cải cách tôn giáo nầy muốn cải tổ lại Giáo hội Công giáo nhưng lại thành lập các Giáo hội mới ly khai khỏi Roma.

Năm 1517 (31-10), giáo sĩ Martin Luther niêm yết 86 học thuyết chống lại các ân xá (vì có sự lợi dụng)

Từ năm 1518 đến năm 1522, Martin Luther lần lần tách rời khỏi giáo hội Rôma. Năm 1520, Martin Luther bị dứt phép thông công.

Tháng 6 năm 1530, nhân danh nhóm theo Luther, Mélanchton tuyên đọc trước hội đồng „bản Tuyên xưng Augsbourg“. Giáo hội Tin lành thành hình. Đối với anh em Tin lành, Giáo hội là một cộng đoàn trên đường cải tiến không ngừng, vì thế chúng ta thấy nhiều sự khác biệt nhau trong Giáo hội Tin lành. Chúng ta có thể nói các giáo hội Tin lành gồm 6 giáo hội chính: 1) Giáo hội Lutherienne, 2) Giáo hội cải cách (Réformiste). 3) Giáo hội Baptiste, 4) Giáo hội Méthodiste. 5) Giáo hội Pentecostiste. 6) nhóm Giáo hội Phúc âm (Évangélistes). Mỗi giáo hội chính nầy còn quy tụ các giáo hội khác.

Anh em Tin lành nhìn nhận quyền tối cao của Thánh kinh về Đức tin và luân lý và con người được công chính hóa bởi đức tin chớ không do công việc làm: con người được cứu rỗi, không do việc lành phước đức, nhưng đức tin vào Đức Kitô là Đấng cứu độ nhân loại. Con người biết ơn Chúa bằng cách cố gắng sống tốt lành hơn. 

GIÁO HỘI ANH GIÁO. 

Giáo hội Anh giáo được thành hình bởi sưu cao thuế nặng, bởi của cải giàu có của Roma và nhất là vào năm 1527, Đức Giáo Hoàng Clément VII (de Médicis) từ chối việc tiêu hôn bí tích hôn phối của vua Henri VIII và Catherine d’Aragon. Vua Henri VIII bắt hàng giáo sĩ Anh công nhận mình là „giáo chủ tối cao“ của Giáo hội Anh quốc. Hàng giáo sĩ Anh buộc phải vâng phục chấp nhận. Hai nhân vật nổi danh chống đối vụ nầy là Đức Hồng y John Fisher và bạn ông là Thomas More; Hai ông phải chết tử đạo. Vào năm 1534, quốc hội Anh thực thi bản quyết định tối cao (acte de suprématie): muốn cưới Anne Boleyn, vua Henri VIII tự chiếm quyền giáo hoàng và bảo Đức Thomas Cranmer, Tổng giám mục Cantorbery, hủy bỏ hôn phối của mình với Catherine d’Aragon, để vua được tự do cưới hỏi.

Giáo hội Anh giáo thành hình với sự hỗ trợ của đức giám mục Thomas Cranmer và Thomas Cromwell.

Năm 1547, dưới triều đại vua Edouard VI, các tín điều và phụng vụ được cải tổ theo Tin lành Luther.

Giáo lý đặt trên nền tảng đức tin của các Tông đồ, các Giáo phụ và các công đồng trước sự ly khai giữa Giáo hội Đông phương và Tây phương (năm 1054). Bản tuyên xưng đức tin chính thức là Book of commun Prayer (1549), bản 39 tín điều (1562) và bản quadrilatère de Lambeth (1888) nhấn mạnh đến 4 điểm quan trọng: 

1- Thánh kinh chứa đựng tất những gì cần thiết cho sự cứu rỗi. 
2- Giáo lý dựa trên kinh Tin kính và giáo huấn công đồng Nicée (325).
3- Hai bí tích chính và cần thiết là Rửa tội và Thánh thể (công nhận các bí tích khác)
4- Các giám mục Anh giáo là người kế vị các Tông đồ. 

NHỮNG CỐ GẮNG ĐỐI THOẠI HIỆP NHẤT. 

Tình trạng chia rẽ ly khai giữa những người cùng tin vào Đức Kitô là một gương mù gương xấu đáng tiếc và là một chướng ngại vật lớn cản trở cho việc rao giảng Tin mừng. Hai Giáo đô Rôma và Constantinople sống ly khai nhau qua nhiều thế kỷ cũng như Các Giáo hội Chính thống, Tin lành, Công giáo trước kia sống kình địch nhau gây nhiều đổ vỡ đáng tiếc cho các Giáo hội và xã hội.

Các Giáo hội đều ý thức lỗi lầm lớn lao nầy nên đã cùng nhau cố gắng kiếm những giải pháp giúp nhau tìm về hiệp nhất như lời nguyện cầu của Đức Kitô:

“Ước gì chúng nên một.“ (Ga 17,22)
Các công đồng hiệp nhất Ferrare, Florence (1438-1439) hai Giáo hội tìm cách giải hòa... nhưng không thực hiện được lâu dài.

Một trong những mục đích chính của Công đồng Vatican II là „cổ võ tái lập sự hiệp nhất giữa các kitô hữu“. Giáo hội Công giáo:

• Công nhận các bí tích của Giáo hội Chính thống.
• Khuyên nên tổ chức các buổi cầu nguyện chung với anh em Tin lành.
• Cho phép tham dự các nghi lễ không Công giáo vì lý do xã hội, giao tiếp, ngoại giao.

Năm 1890, cha Fernand Portal có sáng kiến đối thoại với Lord Halifax. Và được tiếp tục từ năm 1921-1925 giữa nhóm Công giáo và Anh giáo cuộc „đàm thoại Malines“ do Đức Hồng y Mercier đỡ đầu.

Năm 1933, khởi sự tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất các giáo hội kitô giáo (tổ chức từ ngày 18 đến 25 tháng 1 hằng năm) do cha Couturier khởi xướng.

Năm 1937, khởi sự „Groupe de Dombes“ gồm các mục sư Tin lành và linh mục Công giáo gặp nhau bàn hỏi về vấn đề thần học do cha Couturier.

Ngày 5-6-1960, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII sáng lập Văn phòng cổ võ sự hiệp nhất Kitô hữu.
Ngày 6-1-1964, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Đức Giáo chủ Athénagoras gặp nhau tại Thánh đô. Cùng năm ngày 21-11, Vatican II phổ biến sắc lệnh về Hiệp nhất (Unitatis redintegratio).

Ngày 7-12-1965, Đức Giáo hoàng Phaolô VI hủy bỏ sắc lệnh dứt phép thông công năm 1054 và cùng ngày, Roma và Constantinople cùng tuyên bố giải vạ tuyệt thông năm 1054 cho nhau. Ngày 23-3-1996, tại Rôma, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI gặp tiến sĩ Ramsey, Tổng giám mục Cantorbery và sáng lập Ủy ban Công giáo-Anh giáo.

Năm 1967, các cuộc gặp gỡ giữa Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Đức Thượng Phụ giáo chủ Athénagoras tại Istanbul (25-7) và tại Rôma (26 tới 28-10).

Ngày 15-6-1969, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tới tham dự Đại hội hiệp nhất các Giáo hội Tin lành tại Genève.

Năm 1971, giữa hai Giáo hội Công giáo và Anh giáo có sự đồng ý vài điểm về bí tích Thánh thể.

Và tháng 10 cùng năm, Đức Giáo chủ Syrien-orthodoxe Jacob III đến Roma thăm Đức Giáo Hoàng.

Năm 1972, bản tường trình về bí tích Thánh Thể và Thừa tác vụ giữa Tin lành Luther và Công giáo.

Từ năm 1972-1976, bản dịch Thánh kinh đại kết (TOB) ra đời do các nhà kinh thánh Tin lành và Công giáo đồng soạn thảo.

Ngày 4-5-1973, tại Roma, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tiếp kiến Đức Chenouda III, giáo chủ Alexandrie của Giáo hội Copte.

Ngày 29-4-1977, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tiếp kiến tiến sĩ Coggan, tổng giám mục Anh giáo Cantorbery.

Ngày 5-9-1978, Đức giáo chủ Nikodim ở Leningrad (Nga) trong cuộc viếng thăm Rôma đã từ trần trong tay Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I. 

Ngày 30-11-1979, tại Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ), Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gặp Đức Giáo chủ hiệp nhất Dimitrios I và cùng chung hát kinh „Lạy Cha“ bằng tiếng latin trong Thánh lễ do Đức Dimitrios I cử hành. Thành lập Ủy ban đối thoại thần học giữa Giáo hội Công giáo và các Giáo hội Chính thống.

Năm 1982, ba quốc gia Tin lành Luther: Suède, Danmark, Norvège liên lạc ngoại giao với Tòa thánh Roma. Ngày 29-5 cùng năm, tiến sĩ Runcie, tổng giám mục Cantorbery tiếp Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

Ngày 11-12-1983, Đức Giáo Hoàng viếng thăm và giảng trong đền thờ Tin lành Luther tại Roma.

Ngày 13-11-1986, Hội đồng Anh giáo tại London công nhận „vai trò tối thượng phổ quát của Đức Giáo Hoàng Roma.

Năm 1987, Đức Giáo chủ Moscou Dimitros I tham dự một phần Thánh lễ tại Roma và nối lại mối bang giao với Tòa Thánh Vatican.

Ngày 15-5-1989, tại Bâle (Thụy Sĩ) đại hội đại kết Âu châu gồm Hội đồng giám mục Âu châu (Công giáo) và Hội đồng các Giáo hội Tin lành.

Ngày 31-5-1991, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gởi tông thư về sự liên lạc giữa Công giáo và Chính thống cho các giám mục Âu châu.

Ngày 5-10 và 7-12 năm 1991, nghi lễ cử hành nghi thức đại kết ở Roma.

Ngày 25-5-1995, thông điệp “Ut sint unum“ của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II về vấn đề đại kết.

Ngày 27 đến 30-6-1995, Đức Thượng phụ Giáo chủ Constantinople, Đức Dimitrios I, viếng thăm Roma. Trong buổi lễ ra mắt tại công trường thánh Phêrô, lần thứ trong lịch sử giáo hội, Đức Thượng phụ Giáo chủ và Đức Giáo hoàng cùng ban phép lành cho dân chúng.

Ngày 3 đến 6-12-1996, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tiếp Đức Tổng giám mục Cantorbery, tiến sĩ George Carey.

Ngày 23 đến 29-6-1997, tại Graz,đại hội đại kết Âu châu. 

THAY LỜI KẾT

Nhìn qua lịch sử Giáo hội Kitô giáo: Công giáo, Chính thống giáo, Tin lành, Anh giáo, hay nói cách khác là Giáo hội của tất cả những người cùng tin vào Đức Kitô. Một đàng chúng ta nhìn nhận Giáo hội gồm những phần tử là con người, có nghĩa là mang lấy tất cả yếu đuối thấp hèn của con cháu Adong-Evà, nhưng trải qua bao sống gió bão táp từ trong lòng Giáo hội, chúng ta nhận thấy Thánh Thần Thiên Chúa luôn ở với và hoạt động trong Giáo hội hướng đến sự hiệp nhất trong tinh thần đại kết. Mặc dầu các Giáo hội chưa chính thức hiệp nhất với nhau như lời nguyện ước của Đức Kitô: “Ước gì chúng nên một“. Nhưng các Giáo hội đã xích lại ngồi gần nói chuyện với nhau: các mối thân thiện càng ngày càng xiết chặt nhau hơn qua các buổi cầu nguyện đại kết, các phong trào học hỏi Kinh thánh chung, qua các buổi hội họp thăm viếng, các công tác xã hội bác ái chung... Đấy là dấu chỉ thời đại tiến đến sự hiệp nhất như lời nguyện cầu của Đức Kitô: “Ước gì tất cả nên một“. 

17:21:00
Hình ảnh: cuucaclinhhon.files.wordpress.com

NGUỒN GỐC ĐỜI TU KITÔ GIÁO

TỪ TRUYỀN THỐNG TIN MỪNG ĐẾN THẾ KỶ 

Đời tu đã xuất hiện trước khi có Kitô giáo. Nếu đọc lại trong lịch sử các tôn giáo, chúng ta sẽ thấy đã có những hình thức sống có thể so sánh với cách sống của người đan sĩ Kitô giáo. Trong bài này, tác giả chỉ đi tìm về nguồn gốc đời tu trong truyền thống Kitô giáo, vì vậy chỉ xin nói qua môi trường Thánh Kinh với những hình thức sống khá tương hợp theo đời sống tu. 

Trước hết có thể nhắc đến nhóm người biệt phái. Nhóm biệt phái xuất hiện vào thế kỷ thứ hai trước công nguyên từ nhóm người nhân đức ủng hộ ông Giu-đa Mác-ca-bê chống lại vua Antiochus Epiphane: "Bấy giờ huynh đoàn những người Hassidim những người kiên cường can đảm, hết thảy đều tận tình với lề luật đã sát nhập với họ" (1M2, 42). Người biệt phái tinh thông lề luật và có nhiệm vụ phổ biến dạy dỗ dân chúng. Họ tỉ mỉ áp dụng 613 điều luật một cách khắt khe như tác giả Mát-thêu ghi lại nơi chương 15,12. Với trách nhiệm dạy quần chúng nên nhóm biệt phái có mối quan hệ gần gũi với dân. Tuy nhiên, họ giữ khoảng cách đối với những người không tuân giữ lề luật thánh. Đức Giêsu rất gần gũi với nhóm biệt phái trong cách cầu nguyện, trong lời kêu gọi sám hối và trong niềm tin vào sự sống lại. Đức Giêsu thường trách họ thái quá và chỉ biết dựa trên lề luật để tiến gần đến Thiên Chúa. Dù Đức Giêsu tố giác nhóm biệt phái sống bề ngoài thái quá, nhưng không vì vậy làm giảm giá trị dự phóng cuộc sống của họ. Có một số người đã muốn theo dự phóng nầy nên đã tụ họp nhau lại thành huynh đoàn và tin rằng lề luật diễn tả trọn hảo ý Thiên Chúa. Họ cố gắng sống trọn vẹn theo luật. Nhóm biệt phái quy tụ được các ký lục, các tư tế và các giáo hữu. Tất cả mọi người không phân biệt giai cấp hay nam nữ đều có thể gia nhập nhóm nhưng bắt buộc phải qua giai đoạn tuyển chọn. Họ phải từ chối thỏa hiệp với xã hội đang sống. Và để giữ vững tinh thần, các thành viên trong huynh đoàn tụ họp nhau lại dùng cơm để củng cố mối liên hệ huynh đệ và giúp đỡ nhau về phương diện thiêng liêng.

Ngoài ra, có một nhóm khác mang nếp sống rất gần với đời tu mà người ta biết đến là nhóm "ẩn sĩ Ét-xê-nô". Tin Mừng không đề cập đến nhóm này. Nhờ tài liệu của các ông Pline người Rôma, triết gia do thái Philon thành Alexandrie, và sử gia do thái Flavius Josèphe nên chúng ta biết đến họ. Những tài liệu tìm được ở Biển Chết năm 1947 cũng cho biết thêm di tích về cộng đoàn ẩn sĩ Ét-xê-nô. Họ sống ly khai với Do Thái giáo, ẩn tu trong sa mạc, xa lánh văn minh băng hoại, chuyên cần trong kinh nguyện và suy gẫm Thánh Kinh chờ ngày tận thế. Họ sống như thể khước từ thế gian, thầm lặng trước những khó khăn của xã hội Do thái thời bấy giờ. Họ tự cho là những người duy nhất trên con đường hoàn thiện, và trung thành tuân giữ lề luật với một tâm hồn hoàn thiện.
Dù Tin Mừng có nhắc đến những nhóm mang một lối sống gần với đời tu, nhưng cũng không nêu rõ ràng ai là Đấng sáng lập ra cách sống đó. Vì vậy khi nói đến nguồn gốc đời tu, người ta thường mang trong đầu hai lối giải thích giản dị. Lối giải thích thứ nhất cho rằng chính Chúa Kitô đã thiết lập nên đời tu và một giáo hội mang lối sống đan tu. Lối giải thích thứ hai lại cho rằng chính Đức Giêsu đã cho các lời khuyên trọn lành là gốc rễ thể chế đời tu hoặc ít ra chính Đức Giêsu là người khởi xướng.

Ai đã gieo ý cho lối giải thích thứ nhất nêu trên. Theo các sử gia thì ý đó do ông Jean Cassien ghi lại như vậy, vì ông đã dựa vào một số văn bản của các giáo phụ như Eusèbe thành Césarée cũng như văn bản theo thánh Jérôme. Đời sống cộng đoàn phát sinh từ thời các tông đồ giảng đạo. Thật vậy chính đời sống này mà chúng ta thấy xuất hiện ở Giê-ru-sa-lem, trong tổng thể muôn vàn tín hữu như sách Công Vụ các tông đồ phác họa: "Đông đảo các tín hữu chỉ có một lòng và một linh hồn (Cv 4,32) Tôi lập lại, đó chính là toàn thể Giáo Hội đã sống lối sống này. Như sau khi các Tông đồ quá vãng, đoàn lũ các tín hữu bắt đầu nguội lạnh dần, nhất là những người đến từ bên ngoài niềm tin vào Chúa Kitô. Đối với những người còn sốt nóng ngọn lửa của thời các Tông đồ, họ bắt đầu thực hành riêng tư cho chính họ, những luật lệ mà họ nhớ lại là do các Tông đồ đã đặt ra để cho toàn thể thân mình Giáo Hội. Đấy, chính là một loại đan sĩ duy nhất có vào thời kỳ xa xôi đó".

Lối giải thích này ngày hôm nay không còn được ai nhìn nhận, vì lịch sử giáo hội đã cho những dự kiện chính xác bác bỏ lập luận trên. Nhưng tại sao ý trên vẫn có người cho là đúng. Họ cố gắng bào chữa cho rằng Đức Giêsu đã sống như một tu sĩ với các tông đồ kết thành một giáo hội. Giáo hội mang cuộc sống như một cộng đoàn. Họ dựa theo một lối giải thích Thánh Kinh để đi đến kết luận trên; ví dụ trong Tin Mừng thứ 4, thánh Gio-an cho biết các tông đồ bỏ tiền của vào chung nhau, và chính ông Giu-đa được giao trách nhiệm giữ gìn (Ga 12,6). Ngoài ra trong sách Công vụ các tông đồ, những tín hữu tiên khởi cũng đã làm theo đúng như vậy (2,44). Những đoạn văn trên có đủ vững vàng để chứng minh lối giải thích của họ hay không? Khi đọc lại chúng ta sẽ thấy những lập luận trên không đủ chứng minh.

Lối giải thích thứ hai cho rằng Đức Giêsu đã cho các lời khuyên Tin Mừng vẫn còn được một số người theo cho đến ngày hôm nay. Công Đồng Vaticanô II cũng như thể chấp nhận. Lối giải thích thứ hai không nói ngược lại những gì lập luận thứ nhất đưa ra, nhưng đôi khi người ta bỏ lối giải thích đầu để thử đặt nền tảng đời tu trên Lời của Đức Giêsu. Những lời này chỉ định Đức Giêsu trình bày một lối sống cá biệt rất phù hợp với triều đại Thiên Chúa mà Người truyền rao. Đức Giêsu đã mở ra hai con đường đi về Thiên Chúa hay để đạt đến ơn cứu độ: - Con đường đặt nền tảng trên lệnh truyền, đầy đủ và đòi hỏi cho tất cả mọi người. - Con đường các lời khuyên đề nghị cho những ai muốn đạt dễ dàng đến sự trọn lành.

Hai lối giải thích trên về nguồn gốc đời tu hôm nay không còn vững dù Công đồng Vaticanô II khẳng định "đời tu là ân huệ mà Giáo Hội nhận từ Thiên Chúa" (Lumen gentium 6). Nhưng cũng chính Công đồng Vaticanô II đã đưa ra một ý mới mẻ khác khi cho đời tu chiều kích lịch sử: "Theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, chính giáo quyền ân cần giải thích các lời khuyên Tin Mừng, hướng dẫn cách thực hành, cùng thiết lập những lối sống cố định dựa trên những lời khuyên ấy. Do đó, như một cây đâm chồi nẩy lộc um tùm và kỳ diệu từ hạt giống Chúa gieo vãi trong cánh đồng của Người, thì cũng có nhiều lối sống khác nhau: đơn độc hay cộng đồng, và dòng tu khác nhau mà phần sản nghiệp dồi dào đem lại lợi ích cho các chi thể của dòng như toàn Thân Thể Chúa Kitô...(Lumen Gentium 43). Và trong P. Caritatis số 1 Vaticanô II còn khẳng định thêm: "...Ngay từ thời sơ khai của Giáo Hội, đã có những người nam cũng như nữ, qua việc thực hành các lời khuyên Tin Mừng, quyết tự nguyện theo Chúa Kitô với một tinh thần tự do thanh thoát hơn, bắt chước Người một cách trung thành hơn, và mỗi người một cách, tất cả đều sống tận hiến cho Thiên Chúa."

1. TỪ THẾ KỶ THỨ I ĐẾN THẾ KỶ THỨ III

1.1. Những chứng nhân bằng cuộc sống: người khổ hạnh và bậc đồng trinh
Theo bối cảnh vừa ghi trên có những người muốn theo Chúa Kitô bằng mẫu gương cuộc sống. Họ thuộc thành phần nam nữ mang cùng một thực tại nhưng có khác nhau qua cách gọi. Vì vậy chúng ta gọi các ông là người khổ hạnh và các bà là bậc đồng trinh. Ta gọi họ chung chung với từ "những người sống độc thân". Họ lựa chọn cuộc sống xả kỷ, từ bỏ, chấp nhận đau khổ và chối từ sợ hãi phải đương đầu với cuộc sống tiết chế một mình. Tất cả những hy sinh đều có chỗ đứng quan trọng trong cuộc sống.

Từ thời Giáo hội sơ khai đã có những người sẵn sàng theo lý tưởng hoàn thiện phù hợp với lời Chúa Kitô mời gọi ghi trong Tin Mừng Mát-thêu 19,10-12: Các môn đệ thưa Người: "Nếu làm chồng mà phải như thế đối với vợ, thì thà đừng lấy vợ còn hơn". Nhưng Người nói với các ông: "Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy, nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu. Quả vậy, có những người là hoạn nhân vì từ lòng mẹ sinh ra đã như thế; có những người là hoạn nhân vì bị người ta hoạn; và có những người là hoạn nhân do họ tự ý sống như thế vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu."

Thánh Phaolô, trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Cô-rin-tô cũng khuyên như vậy (7,1.7.25-38). Những người này không phân biệt phái tính mang cùng một thực tại sống. Họ hoàn toàn tự do lựa chọn cuộc sống độc thân khiết tịnh, nhưng cũng có người đã sống đời sống gia đình một thời gian và quyết định không còn tương quan giao hợp với người phối ngẫu nữa. Họ tiếp tục sống và thương nhau như anh chị em. Họ không mang y phục nào đặc biệt và cũng không có dấu chỉ đặc biệt nào khác. Họ không sống thành cộng đoàn và không bị bó buộc theo cơ chế đặc biệt nào khác ngoài môi trường gia đình với những bận rộn công việc hằng ngày như mọi người chung quanh.
Hình thức khổ chế này không dễ được chấp nhận theo não trạng Do thái, vì nó đi ngược lại với ơn gọi đặc biệt của dân Do thái. Trong sách Sáng Thế, Thiên chúa đã ban truyền cho họ lệnh "sinh sôi nẩy nở" và sau này Lời Thiên Chúa hứa cùng Abraham không đi ra ngoài mục đích trên.

Thời Đức Giêsu cũng có những nhóm mang cuộc sống tiết chế như nhóm ẩn sĩ Ét-xê-nô ở Qumrân đã được ghi trên. Họ chối từ bậc sống hôn nhân và tin ngày tận thế sắp đến nên cần phải rút ra khỏi thế gian. Người khổ hạnh và bậc đồng trinh có cùng quan niệm đó không? Bối cảnh chờ ngày quang lâm quá quan trọng nên ngay trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Cô-rin-tô, thánh Phaolô khuyên nhủ họ phải sống trạng thái trinh khiết: "Thưa anh em, tôi xin nói với anh em điều này: thời gian chẳng còn bao lâu. Vậy từ nay những người có vợ hãy sống như không có; ai khóc lóc, hãy làm như không khóc; ai vui mừng như chẳng mừng vui; ai mua sắm, hãy làm như không có gì cả; kẻ hưởng dùng của cải đời này, hãy làm như chẳng hưởng. Vì bộ mặt thế gian này đang biến đi. (7,29-31). Thánh Phaolô giải thích cuộc sống độc thân Kitô giáo. Người độc thân là chứng nhân trước một xã hội không hiểu họ. Bậc hôn nhân trong đoạn thư này không cùng quan niệm như người Do thái trước kia. Người độc thân sống trạng thái tự do lựa chọn hiệp thông với Thiên Chúa. Họ tận hiến như hình thức phản kháng xã hội La mã thời bấy giờ. Một xã hội cổ võ tự do luyến ái làm con người có chỗ đứng rất hạn hẹp. Ngay từ thời các Tông đồ, tác giả Lu-ca cũng đã nhắc đến bốn nguời con gái của phó tế Philipphê. Bốn cô ở đồng trinh và được ơn nói tiên tri (Cv 21,8). Bởi vậy thời đó đã có những phụ nữ sống độc thân. Họ hoàn toàn ý thức lựa chọn cuộc sống mạc khải sự tự do và quyền người phụ nữ tự quyết trên lòng khao khát của xác thịt. Sống khiết tịnh là một việc làm hoàn toàn tự nguyện như đoạn Tin Mừng Mát-thêu 19 ghi trên.

Bước sang thế kỷ thứ III, vấn đề lựa chọn con đường khổ hạnh và khiết tịnh được nói đến rất nhiều. Một thể loại văn chương ca tụng việc giữ mình đồng trinh xuất hiện qua ngòi bút các giáo phụ Tertullien, Cyprien và Origène... "Tất cả đều chung lời chứng: sự đồng trinh là dấu chỉ thân phận mới mà Ngôi Lời nhập thể để cho nhân loại được sống. Một kỷ nguyên mới mang lại cho loài người những điều tốt của Nước Trời như cuộc sống, sự sống lại và những hôn lễ. Họ giúp chúng ta tái khám phá cái nhiệt tình thân phận mà họ sống, hầu làm cho người cùng thời có thể chấp nhận hình thái nếp sống mà ban đầu như thể lạ thường........

Lm Lê Phú Hải 

Bài viết khá dài. và để tiên theo dõi hơn, các bạn có thể tải xuống toàn bộ nội dung của bài viết này TẠI ĐÂY 



Hình ảnh: josephdao.blogspot.com
VIỆC THÀNH LẬP 
DÒNG MẾN THÁNH GIÁ TẠI VIỆT NAM

I. LỜI MỞ ĐẦU

“Vinh dự của chúng ta là thập giá Đức Kitô, nơi Người ơn cứu độ của ta, phục sinh của ta, nhờ nó ta được cứu rỗi, nhờ đó ta được giải thoát” (Lc 6,4-5).

Đó là tôn chỉ của chị em dòng Mến Thánh Giá mà đấng sáng lập đã chọn, và mong muốn nhờ thập giá , qua thập giá, chị em sẽ đến với tha nhân và dẫn đưa họ tới cùng Thiên Chúa.
Mến Thánh Giá, hội dòng ra đời cùng với phẩm trật Giáo Hội Việt Nam được mệnh danh : “Dòng Nội”, là dòng đồng hành với Giáo Hội Việt Nam, là người con yêu dấu được sinh ra trong lòng đất mẹ Việt Nam.

1. Sơ lược tiểu sử đấng sáng lập.

Thiên Chúa đặc biệt ưu đãi Giáo Hội Việt Nam ngay từ buổi sơ khai đã ban tặng một món quà qúy báu là : dòng Mến Thánh Giá. Như cánh tay hữu hình của Đức Kitô để cộng tác với hàng giáo sỹ, giáo dân xây dựng nhiệm thể Chúa Kitô ở bên Á Đông. Ân huệ này đến với Giáo Hội Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài, qua trung gian Đức cha Lambert de la Motte.

Cuộc đời Đức cha Lambert nằm gọn trong lòng thế kỷ XVII (1624-1647), sinh ra và lớn lên dưới triều đại vua Louis XIII (1610-1643), chọ chí hướng cho đời mình và thi hành ý hướng đó vào triều đại vua Louis XIV. Ngài sinh ngày 16-1-1624 trong một gia đình hạ lưu tại Normandie, từ nhỏ rất đạo đức, say mê đọc sách gương phúc. Tuổi thiếu thời và thanh niên gặp nhiều thử thách, nhưng được quý nhân phù trợ, được đi học hết đại học luật. Trong số những hiền nhân đương thời giúp đỡ ngài cuộc sống thánh Jean Eudes. Chúa an bài, ngài vào học Đại Chủng Viện để làm linh mục, và chịu chức linh mục ngày 27-12-1665 tại Coutances, đi phục vụ xứ Houen 5 năm. Ýï chí nhiệm mầu, trong chuyến thăm Paris, được thầy đại chủng sinh Nicolas giới thiệu, cha Lambert làm quen với nhóm bạn hiền, trong đó có Đức cha Pallu, người bạn đồng hành sau này bên Á Đông.

29-7-1658, cha Lambert de la Motte và cha Pallu được Đức Giáo Hoàng Alexandre VI đặt làm giám mục để sang truyền giáo vùng Viễn Đông. Đây là nguyện ước của cha Đắc Lộ thỉnh cầu trước đó.

Ngày 11-6-1660 cha Lambert de la Motte chịu chức giám mục tại nguyện đường Thăm Viếng tại Paris. Từ đây cùng với Đức cha Pallu, cả hai trở nên những cột trụ của chương trình truyền giáo Á Đông, là các vị sáng lập Hội Thừa sai Paris (MEP).

18-6-1660, rời Paris đi Marseilles có cha Jacques Bourges tháp tùng, đến Marseilles ngài nhận thêm cha Fx. Daydie vào đoàn thừa sai lên tàu vượt biển Địa Trung Hải hướng về miền truyền giáo ngày 27-11-1660 đến Juthia, kinh đô Thái vào ngày 22-8-1662. Lúc này tại Việt Nam đang có cuộc bách hại đạo dữ dội và không thể đến miền truyền giáo Đàng Trong dù đó là vùng ngài được đặt coi sóc.

2.  Dự định thành lập dòng Mến Thánh Giá.

Theo chứng từ của chính Đức cha Lambert, việc thành lập dòng Mến Thánh Giá nằm trong dự tính lớn, phát sinh từ kinh nghiệm thiêng liêng của ngài qua cuộc gặp gỡ ân tình với Chúa cứu thế.

Năm 1663, ở Juthia, ngài kể rằng : lúc lên 9 tuổi, ở Lisieux trong một lần suy niệm sách gương phúc, quyển II Chương 11-12, giải thích câu Phúc Âm 9,23 của thánh Luca, nói về sự vác thập giá mỗi ngày đi theo Chúa. Ngài được ơn soi sáng để hình dung ra một hội dòng gồm những người yêu mến thánh giá Chúa Kitô.

Rồi tháng 8-1662, lúc mới đến Juthia ngài tĩnh tâm 40 ngày liền, trải qua một kinh nghiệm thiêng liêng rất đặc biệt : ngài muốn chứng tỏ một tình yêu phi thường đối với Chúa Giêsu, kết hợp mật thiết và dâng trót đời mình cho Người , thông dự vào cuộc thương khó của Người bằng cách đánh tội hàng ngày : để long trọng suy tôn hy lễ thánh giá của Chúa, cũng để hoàn tất điều duy nhất còn thiếu sót nơi hy lễ bàn thờ, đó là phải có sự đau khổ. Đây là bí quyết mới mẻ làm hài lòng Chúa Kitô. Chính trong kinh nghiệm này, một làn nữa ngài nhận ra ơn Thiên Chúa soi sáng như tại Lisieux (1633) : muốn thành lập một hội dòng gồm những người yêu mến thánh giá.

Đó là hiệp hội Mến Thánh Giá tại thế, gồm những tín hữu nam nữ, thuộc mọi địa vị xã hội khác nhau. Theo cách hiểu của linh mục sử gia Jean Guernou, dự tính của Đức cha Lambert là thành lập một hội dòng Tông Đồ (congration apostolique), mang tên dòng Mến Thánh Giá, theo nghĩa bao quát “congration des Amateurs de la Croix” gồm 3 nhánh :

- Nhánh thứ nhất : Dòng Nhất  : quy tụ các giám mục, linh mục và nam giáo dân trợ tá như các thầy giảng.

- Nhánh nữ : dòng Nhì, gồm các nữ tu Mến Thánh Giá.
- Nhánh Ba : Dòng Ba Mến Thánh Giá, gồm nam nữ giáo dân sống giữa đời.

3. Mục đích của dòng Mến Thánh Giá nữ.

Như đã nói ở trên, thành viên của Hội Dòng : trước hết là thánh hóa bản thân để rồi thánh hóa kẻ khác, đưa họ về với Đức Kitô trên núi Sọ. Hàng ngày suy ngắm sự thương khó Chúa Giêsu, là phương thế hữu hiệu hơn cả. Cầu nguyện hy sinh, xin cho đồng bào mình nhận biết Thiên Chúa, xin cho cộng việc truyền giáo của các thừa sai đạt nhiều kết qủa, giáo dục săn sóc tha nhân nhất là những người đau khổ, tùy từng đối tượng và hoàn cảnh, tìm nuôi dạy trẻ mồ côi...

Tóm lại, cộng tác với hàng giáo sỹ và giáo dân để mở nước Chúa và kéo dài cánh tay Chúa Kitô trên thánh giá xuống tận mọi người.


II. HÌNH THÀNH DÒNG MẾN THÁNH GIÁ NỮ Ở VIỆT NAM.

1. Dòng Mến Thánh Giá Đàng Ngoài- Bắc Việt Nam.

Vào khoảng 1640, đời chúa Trịnh Tráng, việc truyền giáo của các cha Dòng Tên và thầy giảng Việt Nam đang phồn thịnh, với khoảng 100.000 ngàn tín hữu, 100 nhà thờ, 130 nhà nguyện, bỗng dưng nổi lên bắt đạo dữ dội.

a. Những người khởi xướng và cộng tác viên

Theo linh mục sử gia Ravier Khánh : “Lúc bấy giờì (thời cấm đạo) có ba người ở xứ Đông (Hải Dương ngày nay) đã khấn giữ mình đồng trinh trọn đời. Thoạt nghe tin chúa Trịnh ra chỉ cấm đạo, cả ba đi đến Kẻ Chợ (Hà Nội) để xưng mình trước mặt chúa là người có đạo. Khi đi dọc đường phải chịu nhiều khổ sở, lúc đến Kẻ Chợ thì chúa đã ra lệnh tha đạo rồi. Ba người nữ này dốc lònbg chẳng lìa nhau nữa, một ở chung với nhau cho được tập đi đàng nhân đức. Về sau có nhiều người nữ khác bắt chước theo họ. Và họ cuộc sống lời tuyên khấn : nhà Mụ Bái Vàng trong tỉnh Hà Nội là nhà Mụ trước tiên ở Annam. Phỏng là  nhà ba người nữ ấy gốc tích là nhà Mụ”.

Hẳn nhóm này đã được các cha dòng Tên huấn luyện tu đức nhất là hướng dẫn độc thân vì nước trời và tinh thần nghèo khó Phúc Âm.

Tuy nhiên theo lời cha Dòng Tên Manrini cho hay : vì hoàn cảnh thời cuộc lúc bấy giờ mà các ngài chưa dám nghĩ tới việc thành lập một hội dòng cho nữ giới.

Năm 1666, cha Fx Daydie, đến Đàng Ngoài gặp thấy hai nhóm trinh nữ khoảng 30 người muốn sống chung với nhau. Trong lá thư ngày 1-11-1667, ngài phúc trình lên Đức cha pallu biết sự kiện này và mối bận tâm của mình về việc soạn thảo cho họ một bản quy luật. Tuy không thựcv hiện được nhưng ngài cuộc sống công khởi xướng và hướng dẫn, huấn luyện họ trong đời sống thiêngn liêng.

b. Ngày tháng thành lập dòng Mến Thánh Giá Đàng Ngoài.

Tháng 8-1669, khi Đức cha Lambert de la Motte tới kinh lý Đàng Ngoài, cvha Daydie giới thiệu với ngài nhóm trinh nữ nói trên, sau khi tìm hiểu ký lưỡng, Đức cha quyết định chính thức thành lapạ dòng Mến Thánh Giá nữ đầu tiên tại Kiên Lao, Nam Định (nay thuộc giáo phanạ Bùi Chương) và Bái Vàng, Hà Nam (thuộc giáo phận Hà NỘi ngày nay), và trao cho các nữ tu này bản luật dự thảo. Rồi đích thân nhanạ lời khấn của hai nữ tu tiên khởi : Annê và Paula tại Phố Hiến ngày 19-2-1676. Đặt nữ tu Annê làm bề trên tu viện Bái Vàng, nữ tu Paula làm bề trên tu viện Kiên Lao. Ngày  khấn của họ nhằm lễ Tro mở đầu mùa chay thánh. Đó chính là ngày chính thức khai sinh dòng Mến Thánh Giá tại Việt Nam, “một ngày trong tiết xuân Canh Tuất, đời vua Lê Huyền Tông, niên hiệu Cảnh Trị thứ VIII, chúa là Minh Đô vương Trịnh Tạc”.

Ngày 26-2-1670, trong lúc chờ đợi thời tiết thuận hòa tại cửa khẩu sông Hồng để ra khơi về Thái lan, ngài đã viết cho hai tân khấn sinh một bức tâm thư. Nhắc lại mục đích và tinh thần của bản luật dòng Mến Thánh Giá. Trong đó có đoạn viết : “...mục tiêu chính yếu của đời sống tu trì của chị em chúnhg con là tiếp tục cuộc đời đau khổ của Chúa Giêsu, là cầu xin với Người cho lương dân và người công giáo tội lỗi ăn năn trở lại bằng những kinh nguyện của chúng con, bằng việc ăn chay hãm mình và nước mắt chúng con đổ ra. Nhưng đặc biệt chúng con phải chú trọng điều này “phải làm những công việc thánh thiện đó như làm thay cho Chúa Giêsu” (trích Giáo Hội Việt Nam, trang 118).

c. Đường hướng linh đạo.

Luật dòng Mến Thánh Giá được bản dịch Pháp ngữ làm tại Đàng Ngoài tháng 2-1670. Như vậy Đức cha Lambert de la Motte đã soạn bản luật này tại Đàng Ngoài. Linh mục sử gia Launey cũng ghi như vậy. Nhất là chính lá thư của Đức cha Lambert đệ trình lên Đức Giáo Hoàng Clement IX đề cập tới những quy luật mới ấy và chất liệu trong quy luật dòng Mến Thánh Giá Tại thế, từ đó soạn ra bản luật mới cho tu hội mới là dòng nữ Mến Thánh Giá. Cả hai bản luật đều mang một linh đạo giống nhau : khổ chế và đạo đức như nhau :

- Suy gẫm hàng ngày về sự thương khó Chúa Giêsu.
- Đánh tội hàng ngày trong lúc đọc kinh sám hối.
- Ăn chay mọi ngày thứ sáu.
- Cử hành đặc biệt sốt sắng phụng vụ tuần thánh và các ngày lễ : Cắt Bì, Tìm Thấy và Suy tôn thánh giá.

- Phục vụ tha nhân nhất là những người gặp đau khổ, chị em lầm lỡ và rửa tội trẻ ngoại giáo.
Bản văn soạn thảo theo bố cục : phần mở đầu nêu lên chân lý cơ bản làm nền tảng cho linh đạo Mến Thánh Giá. Các phần tiếp theo xác định mục đích, nhiệm vụ và một số quy tắc mà các thành viên phải tuân giữ. Cuộc sống ba lời khấn, có bề trên, có đời sống chung và sinh hoạt cụ thể do đấng sáng lập xác định rõ.

Bản luật cũng như linh đạo dòng Mến Thánh Giá tại thế trực tiếp gợi hứng cho việc hình thàh bản luật tiên khởi cho dòng nữ Mến Thánh Giá. Theo thời gian đã cuộc sống nhiều khoản, đổi khác vì nhu cầu của thời đại và sự phát triển của Giáo Hội đòi hỏi.

Hội Tông Đồ thì uyển mệnh, hiệp hội Mến Thánh Giá tại thế đã sớm mai một theo thời gian. Chỉ còn lại dòng nữ Mến Thánh Giá tồn tại dẻo dai với Giáo Hội Việt Nam qua bao thăng trầm lịch sử.

2. Lập dòng nữ Mến Thánh Giá Đàng Trong.

a. Chuyến kinh lý Đàng Trong lần thứ nhất.

Đàng Trong là phạm vi trách nhiệm chính của Đức cha Lambert do Tòa Thánh bổ nhiệm. Nhưng vì hòan cảnh xã hội lúc bấy giờ không cho phép ngài liên đới với đoàn chiên thường xuyên, dù ngài rất muốn và nôn nóng. Chỉ qua hai lá thư mục vụ ngài gửi giáo đoàn Đàng Trong vào những năm 1664 và 1666, phần nào nói lên sự săn sóc con cái của ngài.

Trong chuyến kinh lý lần đầu tiên này ở Đàng Trong, ngài đi nhiều nơi, nhưng lưu ý nhất là lúc ngài qua Quảng Trị, vùng đất mà nhiều người cho là được Thiên Chúa chúc lành, vì đã sản sinh ra nhiều vị tử đạo, cống hiến cho Giáo Hội nhiều linh mục và nữ tu ở Đàng Trong.

Cha Vachet, thư ký của Đức cha  Lambert đã không ngần ngại gọi Quảng Trị là “Trưởng nữ các miền truyền giáo của chúng tôi” chính tại vùng đất này lúc đó có khoảng 10 thiếu nữ muốn dâng mình cho Chúa. Họ đã nhờ cha Antôn Hainques viết thư qua Thái lan trình cho Đức cha Lambert biết nguyệía họ trước. Lần này Đức cha qua chị em rất sung sướng được gặp ngài trục tiếp tại nhà bà Luxia Kỳ. Đức cha giảng dạy và ban các bí tích. Ngài nêu lên nhiều câu hỏi thăm dò lòng họ và nhận biết ý Chúa. Vì hoàn cảnh khó khăn, ngài khuyên chị em cầu nguyện, tham dự thánh lễ, nhất là làm tuần Cửu nhật kính Đức Mẹ và thánh Giuse quan thầy miền truyền giáo ở Đàng Trong.

Ngài muốn đặt bà Luxia Kỳ, một quả phụ đạo đức, quảng đại phụ trách nhóm này. Bà khiêm nhườìng từ chối và đã tự nguyện dâng cúng tái sản và chăm lo đời sống cho chị em và xin gia nhập nhóm.

Đức cha Lambert de la Motte chính thức lập dòng Mến Thánh Giá nữ Đàng Trong tại An chỉ vào dịp lễ Giáng Sinh năm 1671 với 10 nữ tu, chị bề trên cả mới ngoài 30 tuổi là em gái cha Giuse Tràng, một trong hai linh mục tiên khởíi của Giáo Hội Đàng Trong. Đức cha cũng trao cho chị em một bản luật giống như ở Đàng Ngoài.

Theo quyết định của ngài, các chị em Mến Thánh Giá cả hai miền vẫn mặc thường phục để tránh nhòm ngó của một xã hội chưa quen với hình thức tu trì công giáo.
Như vậy đây là dòng Mến Thánh Giá thứ hai tại Việt Nam được Đức cha Lambert de la Motte trực tiếp thành lập và trao cho chị em bản luật mà ngài soạn thảo.

b. Dòng Mến Thánh Giá ở Juthia.

Song song với hai sở dòng Mến Thánh Giá tại Việt Nam, Đức cha Lambert de la Motte còn lập một sở dòng Mến Thánh Giá nữa ở Juthia. Hòan cảnh thuận lợi, lúc đó có 4 hay 5 chịû em công giáo gốc Đàng Trong muốn dâng mình cho Chúa sống ở juthia. Đức cha không ngần ngại quy tụ họ lại với nhau và lập thành dòng Mến Thánh Giá và trao cho họ bản luật như ở Đàng Trong và Đàng Ngoài tại Việt Nam.


III.  TÓM KẾT

1. Sơ lược lại nội dung và mục đích của dòng Mến Thánh Giá.

Thành quả dòng Mến Thánh Giá Việt Nam hôm nay là sự ấp ủ từ lúc còn niên thiếu nơi Đức cha quá cố Lambert de la Motte với một niềm say mê thánh giá và đường đi lên Núi Sọ của Chúa Giêsu. Tự đáy lòng thẳm sâu của người con cưng của Chúa Kitô chịu đóng đinh, ngài được ơn soi sáng, thúc đẩy và bộc lộ tình yêu dành cho thầy mình là : dòng Mến Thánh Giá, tiếp tục ngài phổ biến và kiện tòan mối tình muôn thuở ấy.

Với bộ luật do đấng sáng lập soạn để lại và qua nhiều chặng đường đi, nhờ sự giúp đỡ của Giáo Hội và nhất là Giáo Hội địa phương, nữ tu Mến Thánh Giá đã làm triển nỡ nhiều thay đổi để phù hợp với sự phát triển của Giáo Hội. Chị em nữ tu đã thực sụ nối dài bàn tay nhân ái đến khắp mọi người trên tòan đất nước, dù đường đi cóa nhiều khó khăn. Nhưng như Diderot nói ; “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Với nỗ lực của bản thân và ơn thánh, nữ tu Mến Thánh Giá ngày càng chứng tỏ tình yêu mà mình chọn hiến dâng cho Chúa Giêsu và không ngừng phát triển tình yêu ấy, tiến tới trong tu đức và làm việc bác ái : “phục vụ là cho không, phục vụ là quên mình...".

2. Dòng Mến Thánh Giá hôm nay so với những ngày đầu thành lập.

Sau hai chuyến kinh lý Đàng Trong và Đàng Ngoài, Đức cha Lambert de la Motte đã được ơn Chúa soi sáng, đã sinh ra cho Giáo Hội Việt Nam hai sở dòng Mến Thánh Giá. Rồi từ đây những nữ tu con của ngài lại nhân rộng ra.

Nhìn lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam tất cả những ai không bị định kiến chi phối đều nhận thấy rõ vai trò của các nữ tu Mến Thánh Giá : từ những ngày đầu của công cuộc truyền giáo của các thừa sai, chị em đã đóng góp để niềm tin các tín hữu lúc đầu được vững vàng và can đảm, chị em là cánh tay phải của các vị thừa sai, các linh mục,  thầy giảng để lương dân nhờ đó mà nhận biết Chúa.

Sau hơn 3 thế kỷ, nhìn lại chúng ta không thấy không thán phục và cùng chị em Mến Thánh Giá dâng lời cảm tạ ơn Chúa đã an bài để chị em có mặt trên đất Việt Nam. Qua bao thăng trầm thử thách, cộng đoàn Mến Thánh Giá vẫn không ngững phát triển. Từ hai nhóm nhỏ đầu tiên với khoảng 30 người, thế mà nay theo thống kê mới nhất của năm 1995 có hơn 25 sở dòng chính Mến Thánh Giá rải rác trên khắp 25 giáo phận Việt Nam và hơn 8869 nữ tu, chưa kể thỉnh sinh và đệ tử viện. Chiếm con số hợn 1/3 số nữ tu cả nước. Rồi những tòa nhà khang trang, mỗi sở dòng mẹ còn có nhiều chi nhánh nhỏ, tất cả đều có bề trên, có phụ trách, tổ chức sinh hoạt chặt chẽ, quy mô, hoạt động xã hội, học đường, nhà xứ....là bác sỹ, là giáo viêcn ,các nữ tu Mến Thánh Giá đi đến với mọi tầng lớp, công, nông dân, bệnh viện, trại phong... Tuy vẫn còn nhiều khó khăn nhưng con số trên thật đáng khích lệ và vui mừng biết bao.

Song song với sự có mặt và thăng tiến với Giáo Hội Việt Nam, nữ tu  Mến Thánh Giá đã đóng góp không nhỏ và kiên trì trong mọi thử thách của Giáo Hội : tồn tại, sống bác ái, tu đức,thánh hiến mình và thánh hiến tha nhân đúng như mục tiêu ban đầu mà đấng sáng lập đề ra : “các con làm công việc thánh hiến đó như làm thay cho Đức Kitô, bù lại những cái chưa hoàn thiện nơi hy lễ bàn thờ”.
Xem thêm: Đức Giám Mục LAMBERT DE LA MOTTE và công cuộc truyền giáo ở Việt Nam
Sưu tầm từ internet

Author Name

{picture#https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgr3JIeR3kk_h-xB5gPYp7rDm9RC56LumWJPjoTfBoC4n_mW0jWN9_5wSQzelzwE0nO_iVa7R2Cx5Orj04fxiIJnwcz7j0nwqkZoDbz-E7RdldZhQuxUP9bDt4ANZSunmKSXBvI6trFmZG7/s1600/Ch%25C6%25B0a+%25C4%2591%25E1%25BA%25B7t+t%25C3%25AAn-1.png} {facebook#https://www.facebook.com/giaoxulocthuygpvinh} {twitter#https://twitter.com/giaoxulocthuy} {youtube#https://www.youtube.com/@giaoxulocthuy}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.