Đôi dòng lịch sử về linh mục Hippolyte Kerbaol (1888–1960) và những đóng góp to lớn của Ngài trong công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, đặc biệt là tại Giáo phận Vinh.

Linh mục Hippolyte Kerbaol: Một đời tận tụy vì Tin Mừng tại vùng đất Nghệ Tĩnh
Linh mục Hippolyte Pierre Marie Kerbaol (tên Việt thường gọi là Cha Cố Khanh) sinh ngày 14 tháng 8 năm 1888 tại La Roche, thuộc Giáo phận Quimper, Pháp. Ngài thụ phong linh mục ngày 8 tháng 3 năm 1913 và gia nhập Hội Thừa sai Hải ngoại Paris (MEP), sau đó lên đường sang nhận nhiệm vụ tại Giáo phận Vinh (khi đó là Giáo phận Nam Đàng Ngoài) vào cùng năm.
Giai đoạn đầu tại giáo hạt Kỳ Anh (Thập niên 1920 – đầu thập niên 1930)
Trong giai đoạn đầu của sự nghiệp truyền giáo, linh mục Kerbaol được giao quản lý giáo hạt Kỳ Anh. Tại đây, Ngài tập trung vào việc củng cố đức tin cho các Kitô hữu lâu đời và mở mang các xứ đạo mới. Một trong những công việc tiêu biểu của Ngài là thành lập giáo xứ mới cho các ngư dân vốn sống quá xa giáo xứ Dụ Lộc. Dù gặp phải nhiều khó khăn từ chính quyền địa phương và sự phản đối của những người không cùng tôn giáo trong việc xin cấp đất tại các cồn cát ven biển, Ngài vẫn kiên trì với hy vọng "ma quỷ sẽ không có tiếng nói cuối cùng".
Đến năm 1929, Ngài đã hoàn thành việc xây dựng nhà xứ tại Eo cho khoảng 600 tín hữu và khánh thành hai nhà thờ xứ: một tại Quí Hòa bên bờ biển và một tại Du Thành vùng núi. Dưới sự dẫn dắt của Ngài, phong trào trở lại đạo phát triển mạnh mẽ. Năm 1932, Ngài ghi nhận có 955 dự tòng, mặc dù thiếu thốn nguồn lực tài chính để duy trì các thầy giảng và xây dựng các cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc giảng dạy. Một trong những thành công rực rỡ nhất tại Kỳ Anh là tại tổng Vông Liêu, nơi vốn hoàn toàn ngoại giáo nhưng đã sớm có gần 300 người chịu phép rửa và hơn 400 dự tòng. Ngài đã đặt vùng đất này dưới sự bảo trợ của Thánh Nữ Theresa Hài Đồng Giêsu.
Giai đoạn tại Thuận Nghĩa và những đóng góp về giáo dục (1936 – 1945)
Sau một thời gian phải về Pháp điều trị sức khỏe vào năm 1934, linh mục Kerbaol trở lại Việt Nam và được bổ nhiệm làm chính xứ giáo hạt Thuận Nghĩa vào năm 1936, thay thế linh mục Abgrall. Tại Thuận Nghĩa, Ngài quản lý một cộng đồng khoảng 13.000 giáo dân với đời sống tôn giáo rất sốt sắng.
Ngay sau khi về Thuận Nghĩa, vào khoảng năm 1937, Ngài đã bắt đầu công cuộc truyền giáo bằng chuyến kinh lược từ Bắc Quỳnh Lưu cho tới hết địa hạt. Trong chuyến kinh lược này, Ngài ghé qua Đò Hủ (nay là Giáo xứ Xuân An) và Cồn Tro (nay là Giáo xứ Lộc Thủy). Trong ghi chép của mình từ chuyến kinh lược này, Ngài viết: “CON–TRO và DO–HU là hai cộng đoàn Kitô hữu lâu đời với tổng số nhân danh là 400.”

Nhờ những đóng góp xuất sắc cho xã hội và cộng đồng, linh mục Kerbaol đã được Khâm sứ Trung Kỳ trao tặng huân chương "Long tinh An Nam" (Chevalier du Dragon d’Annam) vào năm 1939.
Biến cố năm 1945 và những năm tháng cuối đời
Sau biến cố tháng 8 năm 1945, linh mục Kerbaol cùng nhiều thừa sai khác bị lực lượng Việt Minh bắt giữ và quản thúc tại Vinh. Ngài đã trải qua những giây phút kinh hoàng khi bị dẫn đi từ làng này sang làng khác trong suốt 10 ngày, và tại mỗi chặng dừng, người ta lại đọc bản án tử hình đối với Ngài. Tuy nhiên, Ngài đã may mắn sống sót và sau đó chuyển về làm tuyên úy tại bệnh viện quân y ở Hải Phòng trong vài năm, nơi Ngài tiếp tục xây dựng một nhà nguyện nhỏ.
Những năm cuối đời, linh mục Kerbaol trở về Pháp. Ngài bị tai biến mạch máu não dẫn đến liệt nửa người vào năm 1959 và qua đời ngày 11 tháng 5 năm 1960 tại Montbeton, Pháp, thọ 72 tuổi.

Đăng nhận xét