Linh mục Hippolyte Kerbaol: Một đời tận tụy vì Tin Mừng tại vùng đất Nghệ Tĩnh | GIÁO XỨ LỘC THỦY
12 Thánh tông đồ Audio suy niệm Audio truyện Công giáo Âm nhạc Bài Giảng mp3 Bạn có biết bạn trẻ xa nhà Bảo vệ sự sống Blog tips Ca kịch công giáo Các bài giáo lý của ĐTC Phanxicô Các hội đoàn Các mục chính Các Thánh Các thánh địa Công giáo Các thánh khác Các Tuần Cửu Nhật Kính Đức Mẹ Các vấn nạn xã hội Cắm hoa nghệ thuật Câu chuyện Giáng Sinh Châm ngôn công giáo Chiêm ngắm Chúa Chuyện phiếm đạo đời Chuyện về Giáo Lý và Giáo Dục Công Giáo đó đây Cửu Nhật Kinh Nguyện Danh Danh bạ website các giáo xứ - giáo họ việt nam Danh bạ website công giáo Di sản thế giới Du Lịch Đẹp + Để sống đạo hôm nay Đôi nét về Giáo xứ Đời sống cầu nguyện Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Đức Mẹ Lama Đức Thánh Cha phanxico Đức Tin và Khoa Học Đường Hy Vọng Gia đình Giải đáp thắc mắc cuộc đời Giao hat Vang Mai Giáo hạt Vàng Mai Giáo Hội Đông Phương Giáo lý - dân ca Giáo lý - kinh thánh Giáo sử Giáo xứ Media góc học tập Góc khám phá Góc nghệ thuật Góc thư giãn Góp nhặt Hạt Giống Lời Chúa Hình ảnh cổ xưa Hình ảnh Giáo xứ Lộc Thủy học tiếng anh Hướng dẫn sử dụng webblog Kết nối websites Kiến thức phổ thông Kính Đức Mẹ Kinh thánh tiếng anh Lẽ sống Lịch sử các Dòng tu Lịch sử Giáo Hội Việt Nam Lịch sử hình thành Giáo xứ Lộc Thủy Lòng Thương xót Chúa Lộc Thủy Lời Chúa qua bài hát Lời chúa theo chủ đề Lời chúc xuân Mùa Vọng - Advent Năm thánh Lòng Thương Xót Nghe và suy gẫm Nghệ thuật Công Giáo Nghệ thuật sống Ơn gọi-tận hiến Phim công giáo Quỳnh lưu Radio Công Giáo Sách Công giáo sách tháng đức bà Sắc màu cuộc sống Sổ tay sinh hoạt suy gẫm Suy gẫm và Cầu nguyện Suy niệm Lời Chúa Suy niệm Lời Chúa mùa Phục Sinh Suy niệm Lời Chúa mùa TN A Suy niệm Lời Chúa năm A Suy niệm mùa chay Sức khỏe - ẩm thực Tài liệu Công Giáo tổng hợp Tài liệu dạy Giáo Lý Tài liệu Tuần Thánh Thánh ca Thánh ca cầu nguyện Thánh Ca Hoàng Diệp Thánh Mẫu học Thánh Mẫu La vang Thế giới Công Giáo Thơ - Truyện Công Giáo Thơ Công Giáo Thơ và cuộc sống Thủ thuật blog Thủ thuật facebook Thủ thuật google + Thư Viện Công Giáo Tiếng anh qua Lời Chúa Tiêu điểm Tìm hiểu phụng vụ Tin Công Giáo Tin Giáo xứ Tin tức Giáo xứ Lộc Thủy Tin Việt Nam và Thế Giới Tổ chức kỳ thi Giáo lý Tông huấn Giáo hội Công giáo Trang Trí Giáng Sinh Trắc nghiệm Giáo lý Trắc nghiệm Kinh Thánh Trắc nghiệm năm đức tin Truyện Công Giáo Truyện về Mẹ Tư liệu Giáo hội Công giáo việt nam Tư liệu Giáo phận Vinh Tư liệu Giáo xứ Lộc Thủy Từ vựng công giáo Anh-việt Tv Công giáo TVs và Radios khắp nơi Vấn đáp đức tin công giáo Videos Đặc Sắc Vietnamese English Prayers Vinh Quang Đức Maria Website Công Giáo bổ ích Xứ đạo đầu tiên

Linh mục Hippolyte Kerbaol: Một đời tận tụy vì Tin Mừng tại vùng đất Nghệ Tĩnh

Đôi dòng lịch sử về linh mục Hippolyte Kerbaol (1888–1960) và những đóng góp to lớn của Ngài trong công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, đặc biệt là tại Giáo phận Vinh.

linh muc Hippolyte KERBAOL

Chân dung linh muc Hippolyte KERBAOL (Cố Khanh)

Linh mục Hippolyte Kerbaol: Một đời tận tụy vì Tin Mừng tại vùng đất Nghệ Tĩnh

Linh mục Hippolyte Pierre Marie Kerbaol (tên Việt thường gọi là Cha Cố Khanh) sinh ngày 14 tháng 8 năm 1888 tại La Roche, thuộc Giáo phận Quimper, Pháp. Ngài thụ phong linh mục ngày 8 tháng 3 năm 1913 và gia nhập Hội Thừa sai Hải ngoại Paris (MEP), sau đó lên đường sang nhận nhiệm vụ tại Giáo phận Vinh (khi đó là Giáo phận Nam Đàng Ngoài) vào cùng năm.

Giai đoạn đầu tại giáo hạt Kỳ Anh (Thập niên 1920 – đầu thập niên 1930)

Trong giai đoạn đầu của sự nghiệp truyền giáo, linh mục Kerbaol được giao quản lý giáo hạt Kỳ Anh. Tại đây, Ngài tập trung vào việc củng cố đức tin cho các Kitô hữu lâu đời và mở mang các xứ đạo mới. Một trong những công việc tiêu biểu của Ngài là thành lập giáo xứ mới cho các ngư dân vốn sống quá xa giáo xứ Dụ Lộc. Dù gặp phải nhiều khó khăn từ chính quyền địa phương và sự phản đối của những người không cùng tôn giáo trong việc xin cấp đất tại các cồn cát ven biển, Ngài vẫn kiên trì với hy vọng "ma quỷ sẽ không có tiếng nói cuối cùng".

Đến năm 1929, Ngài đã hoàn thành việc xây dựng nhà xứ tại Eo cho khoảng 600 tín hữu và khánh thành hai nhà thờ xứ: một tại Quí Hòa bên bờ biển và một tại Du Thành vùng núi. Dưới sự dẫn dắt của Ngài, phong trào trở lại đạo phát triển mạnh mẽ. Năm 1932, Ngài ghi nhận có 955 dự tòng, mặc dù thiếu thốn nguồn lực tài chính để duy trì các thầy giảng và xây dựng các cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc giảng dạy. Một trong những thành công rực rỡ nhất tại Kỳ Anh là tại tổng Vông Liêu, nơi vốn hoàn toàn ngoại giáo nhưng đã sớm có gần 300 người chịu phép rửa và hơn 400 dự tòng. Ngài đã đặt vùng đất này dưới sự bảo trợ của Thánh Nữ Theresa Hài Đồng Giêsu.

Giai đoạn tại Thuận Nghĩa và những đóng góp về giáo dục (1936 – 1945)

Sau một thời gian phải về Pháp điều trị sức khỏe vào năm 1934, linh mục Kerbaol trở lại Việt Nam và được bổ nhiệm làm chính xứ giáo hạt Thuận Nghĩa vào năm 1936, thay thế linh mục Abgrall. Tại Thuận Nghĩa, Ngài quản lý một cộng đồng khoảng 13.000 giáo dân với đời sống tôn giáo rất sốt sắng.

Ngay sau khi về Thuận Nghĩa, vào khoảng năm 1937, Ngài đã bắt đầu công cuộc truyền giáo bằng chuyến kinh lược từ Bắc Quỳnh Lưu cho tới hết địa hạt. Trong chuyến kinh lược này, Ngài ghé qua Đò Hủ (nay là Giáo xứ Xuân An) và Cồn Tro (nay là Giáo xứ Lộc Thủy). Trong ghi chép của mình từ chuyến kinh lược này, Ngài viết:  “CON–TRO và DO–HU là hai cộng đoàn Kitô hữu lâu đời với tổng số nhân danh là 400.”

Nhà thờ Cồn Tro - nay là Giáo xứ Lộc Thủy
Nhà thờ Cồn Tro (Lộc Thủy ngày nay), ảnh do Cha Cố Khanh chụp năm 1937

Ngài đặc biệt chú trọng đến công tác giáo dục và bác ái. Năm 1938, Ngài khánh thành trường tiểu học Pháp-Việt mang tên Chân phước Pierre Khoa (một vị tử đạo quê hương Thuận Nghĩa) với sức chứa hàng trăm học sinh. Ngài cũng thực hiện các cuộc truyền giáo tại những ngôi làng ngoại giáo như Đông Huống, nơi Ngài đã cử hành phép rửa cho 238 tân tòng trong một buổi lễ trọng thể. Tại làng Hà Lân [Hạ Lân, nay là Quỳnh Liên), Ngài đã mua lại một khu rừng thiêng và phá bỏ một am nhỏ (với sự đồng thuận của những người trở lại đạo) để xây dựng một nhà nguyện dâng kính Đức Mẹ Lộ Đức, biến nơi đây thành một trung tâm cầu nguyện cho vùng phía bắc giáo hạt.

Nhờ những đóng góp xuất sắc cho xã hội và cộng đồng, linh mục Kerbaol đã được Khâm sứ Trung Kỳ trao tặng huân chương "Long tinh An Nam" (Chevalier du Dragon d’Annam) vào năm 1939.

Biến cố năm 1945 và những năm tháng cuối đời

Sau biến cố tháng 8 năm 1945, linh mục Kerbaol cùng nhiều thừa sai khác bị lực lượng Việt Minh bắt giữ và quản thúc tại Vinh. Ngài đã trải qua những giây phút kinh hoàng khi bị dẫn đi từ làng này sang làng khác trong suốt 10 ngày, và tại mỗi chặng dừng, người ta lại đọc bản án tử hình đối với Ngài. Tuy nhiên, Ngài đã may mắn sống sót và sau đó chuyển về làm tuyên úy tại bệnh viện quân y ở Hải Phòng trong vài năm, nơi Ngài tiếp tục xây dựng một nhà nguyện nhỏ.

Những năm cuối đời, linh mục Kerbaol trở về Pháp. Ngài bị tai biến mạch máu não dẫn đến liệt nửa người vào năm 1959 và qua đời ngày 11 tháng 5 năm 1960 tại Montbeton, Pháp, thọ 72 tuổi.


Nguồn tham khảo:

H. Kerbaol, Compte Rendu Des Travaux Du District De Thuân-Nghia (1937-1938) Mission De Vinh (Annam), 10.
Annales de la Société des Missions Étrangères, số 1924_36, tr. 32. Annales de la Société des Missions Étrangères, số 1929_37, tr. 35. Annales de la Société des Missions Étrangères, số 1932_36, tr. 38. Annales de la Société des Missions Étrangères, số 1932_36, tr. 39. Annales de la Société des Missions Étrangères, số 1932_B1_123, tr. 68. Annales de la Société des Missions Étrangères, số 1933_37, tr. 106. Annales de la Société des Missions Étrangères, số 1934_B1_150, tr. 220. Annales de la Société des Missions Étrangères, số 1936_37, tr. 308. Annales de la Société des Missions Étrangères, số 1939_A_247, tr. 135 (ghi chú về huân chương). Annales de la Société des Missions Étrangères, số 1936_B1_169, tr. 135 (ghi chú về huân chương). Echos Missionnaires, số 7 (1943), tr. 204. Echos Missionnaires, số 7 (1943), tr. 204. Echos Missionnaires, số 7 (1943), tr. 205. Echos Missionnaires, số 7 (1943), tr. 205. Echos Missionnaires, số 7 (1943), tr. 205. Annales de la Société des Missions Étrangères, số 1948_36, tr. 36. Annales de la Société des Missions Étrangères, số 1949_35, tr. 35. Compte-Rendu des Travaux 1952, tr. 147. Bulletin de la Société des Missions Étrangères de Paris, số 1959_B2_127, tr. 750. Bulletin de la Société des Missions Étrangères de Paris, số 1960_B2_132, tr. 639 (Nécrologe).

Đăng nhận xét

[blogger][facebook][disqus]

Author Name

{picture#https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgr3JIeR3kk_h-xB5gPYp7rDm9RC56LumWJPjoTfBoC4n_mW0jWN9_5wSQzelzwE0nO_iVa7R2Cx5Orj04fxiIJnwcz7j0nwqkZoDbz-E7RdldZhQuxUP9bDt4ANZSunmKSXBvI6trFmZG7/s1600/Ch%25C6%25B0a+%25C4%2591%25E1%25BA%25B7t+t%25C3%25AAn-1.png} {facebook#https://www.facebook.com/giaoxulocthuygpvinh} {twitter#https://twitter.com/giaoxulocthuy} {youtube#https://www.youtube.com/@giaoxulocthuy}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.