ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ DÒNG MẾN THÁNH GIÁ (1640–1846)
Dòng Mến Thánh Giá, hội dòng nữ tu đầu tiên mang bản sắc Á Đông, được hình thành và phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam từ thế kỷ XVII. Lịch sử của dòng không chỉ là một hành trình đức tin mà còn là bản anh hùng ca về sự kiên cường của người phụ nữ Công giáo trong bối cảnh cấm đạo và chiến tranh.

1. Tiền thân và Sự hình thành (1640–1671)
Trước khi dòng chính thức ra đời, các nhóm trinh nữ tự nguyện đã xuất hiện tại Đàng Ngoài. Năm 1640, tài liệu ghi nhận ba thiếu nữ tại tỉnh Đông là Monique, Nymphe và Vitte đã lập nhóm sống chung và khấn giữ mình đồng trinh. Năm 1663, Linh mục Marini xác nhận rằng dù chưa có tu viện (Cloîtres), nhiều thiếu nữ đã rời bỏ làng quê, sống chung trong nhà của các bà góa đạo đức, lao động thủ công để tự túc và sống như những tu sĩ.
Sự kiện chính thức diễn ra vào năm 1670. Linh mục Lambert de la Motte, sau khi quan sát tinh thần đạo đức của các nhóm phụ nữ này, đã quyết định lập quy chế cho họ. Vào ngày lễ Tro năm 1670 tại Phố Hiến (Đàng Ngoài), ông đã nhận lời khấn của hai nữ tu đầu tiên là Agnès và Paule. Một năm sau, vào năm 1671, ông tiếp tục thành lập dòng tại Đàng Trong (An Chỉ, Quảng Nghĩa) với sự hỗ trợ của bà góa Luce.
2. Linh đạo và Quy luật sơ khởi
Theo văn bản thành lập năm 1670, mục đích chính của dòng là hằng ngày suy niệm về sự thương khó của Chúa Giêsu và kết hợp nỗi khổ đau của bản thân với Người. Các nữ tu khấn ba lời khuyên Tin Mừng: Nghèo khó, Khiết tịnh và Vâng phục sau hai năm thử luyện. Dòng không giữ nội cấm nghiêm ngặt để các chị em có thể ra ngoài làm tông đồ: dạy dỗ thiếu nữ, chăm sóc bệnh nhân và rửa tội cho trẻ em trong trường hợp khẩn cấp.
Về đời sống vật chất, các nữ tu hoàn toàn tự túc thông qua lao động thủ công như dệt vải, làm nón, may mặc và buôn bán nhỏ. Năm 1751, Giám mục Néez mô tả họ sống rất kham khổ, chỉ ăn thịt 3 ngày trong năm (Giáng sinh, Phục sinh, Hiện xuống) và ăn chay nhiều ngày trong tuần.
3. Sự phát triển qua các thế kỷ
Tại Đàng Ngoài: Dòng phát triển rất nhanh chóng. Năm 1677, đã có khoảng 90 nữ tu sống tại nhiều cộng đoàn. Đến năm 1751, số lượng đã lên tới hơn 400 chị em trong 25 nhà. Các nhà dòng như Kiên Lao, Trung Linh, Kẻ Riền trở thành nơi ẩn náu quan trọng cho các thừa sai trong thời kỳ bắt đạo. Nữ tu Cécile (mất năm 1733) nổi tiếng với trí tuệ và đức hạnh, đã có công lớn trong việc che giấu các Giám mục khi họ bị trục xuất.
Tại Đàng Trong và Campuchia: Tại Đàng Trong, dù gặp nhiều khó khăn, các cộng đoàn vẫn hiện diện tại Quảng Nghĩa và Phú Yên. Năm 1771, dòng được mở rộng sang Campuchia bởi Linh mục Levavasseur tại Prek-parang và Kuc-nguon. Tuy nhiên, thiên tai và chiến tranh đã gây nhiều thiệt hại, tiêu biểu là vụ 7 nữ tu tại Hà Tiên bị sát hại năm 1778 khi đang bảo vệ trinh tiết trước quân cướp.
4. Thử thách và Sự trung kiên
Trong các thế kỷ XVIII và XIX, các nữ tu Mến Thánh Giá luôn là đối tiêu của các cuộc bắt hại. Năm 1712, một nữ tu đã qua đời trong tù tại Nghệ An sau nhiều tháng bị giam cầm. Dưới thời vua Minh Mạng (1833-1840), hàng loạt tu viện bị san bằng, các nữ tu phải tản mát vào rừng hoặc ẩn náu trong nhà giáo dân.
Hình ảnh Sơ Zi (1838) dũng cảm mang lương thực và liên lạc cho các vị tử đạo Paul Mĩ, Pierre Đường và Pierre Truật trong ngục tối là minh chứng cho sự can trường của hội dòng. Năm 1841, Sơ Marie-Magdeleine Nguyễn Thị Hậu bị bắt, chịu cực hình và qua đời trong cảnh lưu đày, trở thành tấm gương sáng về đức tin.
5. Thống kê đến năm 1846
Trước khi chia tách địa phận vào năm 1846, Dòng Mến Thánh Giá có sự phát triển ổn định bất chấp khó khăn:
- Địa phận Tây Đàng Ngoài: Có 30 tu viện với 616 nữ tu. Riêng vùng Hà Nội có 453 chị em.
- Địa phận Đàng Trong: Đến năm 1843, dù bị tàn phá bởi sắc lệnh của Minh Mạng, vẫn còn khoảng 18 nhà dòng hoạt động bí mật với khoảng 250 nữ tu và postulantes.
Tài liệu tham khảo:
- Alexandre de Rhodes, Histoire du Royaume de Tunquin, Lyon, Jean-Baptiste Devenet, 1651, p. 306-308.
- Jean-Philippe de Marini, Delle missioni de’ padri della compagnia di Giesu nella provincia del Giappone, e particolarmente di quella di Tunkino, Rome, 1663, p. 223.
- Mgr Lambert à Mme Agnès et Mme Paule : Amep, vol. 677, p. 216.
- Amep, vol. 131, p. 256-257.
- Institut des Amantes de la Croix de Jésus-Christ (Fin) : Amep, vol. 677, p. 209-210.
- Institut des Amantes de la Croix de Jésus-Christ (Règles, 1è article) : Amep, vol. 677, p. 210.
- M. Deydier à sa sœur, 2 décembre 1677 : Amep, vol. 651, p. 54.
- État présent de la mission du Tonquin (8 juin 1751) : Amep, vol. 688, p. 224.
- 90 épouses au Tonkin : Amep, vol. 657, p. 9-10.
- La mort de la Mère Cécile (Journal de 1733, par M. Néez) : Amep, vol. 686, p. 567-568.
- Adrien Launay, Mémorial de la Société des Missions Étrangères, 2è partie, Notices bibliographiques 1658-1913, Paris, 1916 : « Levavasseur ».
- Notes de M. Pianet : Amep, vol. 805, p. 138.
- La đầu tiên martyrisée : Amep, vol. 685, p. 87.
- Lettre du M. Rouge (24 avril 1834) : APF, tome 8, 1835, p. 392.
- La Sœur Zi (par M. Marette) : Amep, vol. 696, p. 605.
- Mgr Cuenot à Mgr Bonnant, vicaire apostolique de Pondichéry (26 janvier 1841) : Amep, vol. 1258, p. 424.2.
- Mgr Retord à M. Laurent (Janvier 1846) : Amep, vol. 697, p. 830-831.
- Répertoire des Membres de la Société des Missions Étrangères, 1659-2004 : Notice n°391 : Retord.
- Compte-rendu par Mgr Cuenot (1843) : Amep, vol. 749, p. 1051.

Đăng nhận xét